Tâm sự Nguyễn Du qua bài thơ “Thăng Long Cầm Giả Ca”- Hoàng Xuân Thảo

alt

Nguyễn Du viết bài thơ này năm 1813 trong dịp ông từ Huế ra Thăng Long trên đường đi sứ sang Trung quốc cầu phong cho vua Gia Long. Bài thơ này được xếp đầu tiên trong tập Bắc Hành Tạp Lục gồm 131 bài, trong tập này chỉ có bài thơ này cùng với bài Ngô Đệ Cựu Ca Cơ và hai bài thơ ngắn Thăng Long I và II là viết về việc và người nước Việt, còn những bài khác toàn viết về những điều tai nghe mắt thấy trên đường sang Trung quốc.

Bài này được viết theo thể thơ cổ ca và hành, gọi chung là ca hành gồm tất cả 50 câu, ba câu mở đầu ngắn gọn chỉ có 4 và 5 từ, còn hầu hết là câu thất ngôn, thỉnh thoảng có xen kẽ 8 câu 9 từ và một câu 11 từ. Thể ca hành thường dài, không hạn chế số câu, số từ, không cần niêm, đối chặt chẽ và thường có tính cách tự sự và trữ tình. Một bài khác của Nguyễn Du, Sở Kiến Hành cũng được viết theo thể ca hành này.

Từ trước tới nay đã có nhiều bản in bài thơ này và vì không có bản viết tay của Nguyễn Du nên có hiện tượng tam sao thất bản. Tuy nhiên ta có thể lấy 4 bản có uy tín nhất, so sánh và chọn lựa rồi đúc kết thành một bản tổng hợp để từ đó phân tích tâm sự Nguyễn Du qua bài thơ này mà được hậu thế coi là bài thơ chữ Hán dài nhất và hay nhất của Nguyễn Du trong tổng số 249 bài, không thua gì bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị với nội dung tương tự. Trong 4 bản đó thì 3 bản của Đào Duy Anh – Thơ Chữ Hán: Nguyễn Du, của Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính – Nguyễn Du: Cuộc Đời và Tác Phẩm, của Quách Tấn – Tố Như Thi rất giống nhau, chỉ khác vài tiểu tiết và là bản mà hầu hết chúng ta đều biết, còn bản của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc – Hán Văn Tinh Túy có nhiều từ khác, có lẽ dựa trên bài dịch của Học Canh là người dịch bài thơ này trước tiên dưới tựa đề Cầm Giả Dẫn vào cuối Thế Kỷ IXX nhưng rất ít người biết tới.

Bài thơ còn có lời Tiểu Dẫn của tác giả giống như bài Tỳ Bà Hành.

LONG THÀNH CẦM GIẢ CA

Dưới đây là bài thơ do Tri Vũ sao lại từ thư viện Paris gửi cho Quách Tấn, giống như bản của Đào Duy Anh. Quách Tấn chỉ dịch bài thơ ra văn xuôi nên rất sát ý của nguyên tác.

Bài Ca về Người Gảy Đàn đất Long Thành

(Làm trong lúc mệnh phụ đi sứ)

TIỂU DẪN

Người gảy đàn đất Long Thành ấy, tên họ gì không rõ. Nghe nói lúc nhỏ nàng học đàn Nguyễn nơi đội nữ nhạc trong cung vua Lê. Binh Tây Sơn dấy lên, các đội nhạc cũ lớp chết lớp bỏ đi. Nàng lưu lạc ở các chợ, ôm đàn gảy dạo. Những bản đàn nàng gảy là những khúc trong cung phụng gảy cho vua nghe, người ngoài không ai biết. Cho nên tài danh nàng lừng lẫy một thời.

Thiếu thời, đến kinh đô thăm anh, tôi trọ gần Giám Hồ. Cạnh đó, các quan Tây Sơn tập hội nữ nhạc, danh cơ không dưới vài chục. Nàng ăn đứt mọi người với cây đàn Nguyễn, lại hát hay và khéo nói khôi hài. Cử tọa đều say mê điên đảo, đua nhau ban thưởng. Những chén rượu thưởng to lớn, nàng nhận uống cạn. Tiền thưởng nhiều vô số. Vàng lụa chồng chất đầy cả đất. Lúc bấy giờ tôi núp trong bóng tối, trông thấy nàng không rõ lắm. Sau gặp lại tại nhà anh tôi. Nàng người thấp nhỏ, má bầu, trán giô, mặt gẫy. Không đẹp lắm, nhưng làn do trắng trẻo, khéo trng điểm, mày thanh, má phấn, áo màu hồng, quần cánh chả, hơn hớn có bề phong tao. Tánh lại hay rượu, ưa hài hước. Đôi mắt long lanh không để ai vào tròng. Khi ở nhà anh tôi, mỗi lần uống rượu, nàng uống say vùi, nôn mửa tứ tung, nằm lăn trên sàn, bạn bè chê trách không quan tâm.

Sau đó vài năm, tôi dời vô Nam, ngót mấy năm liền không trở lại Long Thành. Muà xuân năm nay, phụng mệnh đi sứ Trung Quốc, tôi đi ngang qua Long Thành. Các bạn mở tiệc tiễn tôi tại dinh Tuyên Phủ, có gọi vài chục nữ nhạc, tôi đều không quen mặt biết tên. Tiệc khởi múa hát. Kế tiếng đàn trỗi lên, nghe trong trẻo khác thường, không chút giống thời khúc. Lòng tôi kinh dị. Nhìn người gảy đàn thì thấy thân gầy, thần khô, mặt đen, sắc trông như qủy, áo quần toàn vải thô, bạc màu lại vá nhiều mảnh trắng, ngồi im lìm ở cuối chiếu, không nói cũng không cười, hình trang thật khó coi. Tôi không biết là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như quen quen, nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi thăm thì hoá ra là người trước kia đã gặp.

Than ôi! Người ấy sao đến nỗi thế này? Cúi ngửa bồi hồi, nghĩ đến cảnh cổ kim, lòng tôi cảm kích vô hạn. Đời người trăm năm, những cảnh vinh nhục, vui buồn thật khôn lường. Sau khi từ biệt, trên đường đi sứ, cảm thương khôn nén, nên soạn bài ca để gởi hứng:

Long thành Giai nhân

Tính thị bất ký thanh

Độc thiện Nguyễn cầm

Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh

Học đắc tiền triều cung trung “Cung Phụng Khúc”

Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh

Dư ức thiếu thời tằng nhất kiến

Giám Hồ hồ biên dạ khai yến

Kỳ thời tam thất chánh phương niên

Hồng trang yểm ánh đào hoa diện

Đà nhan hàm thái tối nghi nhân

Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến

Hoãn như sơ phong độ tùng lâm

Thanh như song hạc minh tại âm

Liệt như Tiến Phuc bi đầu toái tích lịch

Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm.

Thính giả mĩ mĩ bất tri quyện

Tiện thị Trung Hoà đại nội âm.

Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo

Triệt dạ truy hoan bất tri bão

Tả phao hữu trịch tranh triền đầu

Nê thổ kim tiền thù thảo thảo

Hào hoa ý khí lăng vương hầu

Ngũ Lăng niên thiếu bất túc đạo

Tính tương tam thập lục cung xuân

Hoạt tố Trường An vô giá bảo.

Thử tịch hồi đầu nhị thập niên

Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên

Chỉ xích Long Thành bất phục kiến

Hà huống thành trung ca vũ diên

Tuyên Phủ sứ quân vị dư trung mãi tiếu

Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu

Tịch mạy nhất nhân phát bán hoa

Nha sấu thần khô hình lược tiểu

Lang tạ tàn mi bất sức trang

Thùy tri tựu thị đương thời thành trung đệ nhất diệu?

Cựu khúc thanh thanh ám lệ thùy

Nhĩ trung tình thính tâm trung bi

Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự

Giám Hồ tịch trung tằng kiến chi

Thành quách suy di nhân sự cải

Kỷ xứ tang điền biến thương hải?

Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong

Ca vũ không di nhất nhân tại.

Thuấn tức bách niên năng kỷ thì

Thương tâm vãng sự lệ triêm y

Nam hà qui lai đầu tận bạch

Quái để giai nhân nhan sắc suy

Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng

Khả liên đối diện bất tương tri!


Người đẹp đất Long Thành

Không nghe gọi tên họ

Riêng thạo đàn Nguyễn

Người trong thành bèn lấy chữ Cầm đặt tên

Nàng học được khúc “Cung Phụng” trong cung tiền triều

Đó là những khúc đàn hay nhất trời đất

Tôi nhớ lúc thiếu thời đã gặp một lần

Bên bờ Hồ Giám trong một cuộc dạ yến

Lúc đó nàng khoảng hăm mốt tuổi

Áo hồng ánh lên mặt hoa đào

Má hừng rươu, vẻ ngây thơ, rất dễ thương

Năm cung réo rắt theo ngón tay đổi điệu

Tiếng khoan như gió thoảng qua rừng thông

Tiếng trong như đôi hạc kêu trên cao thẳm

Tiếng mạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc

Tiếng buồn như Trang Tích lúc bệnh ngâm tiếng Việt.

Người nghe say sưa không biết mỏi

Đúng thật khúc đàn trong đại nội Trung Hoà

Các quan Tây Sơn đều say mê điên đảo

Mải vui thâu đêm không biết chán

Bên tả bên hữu tranh nhau vãi thưởng

Tiền bạc coi rẻ như đất bùn

Ý khí hào hoa át cả vương hầu

Đám thiếu niên Ngũ Lăng không đáng kể

Tưởng chừng băm sáu cung xuân

Chung đúc một vật báu vô giá đất Trường An

Từ bữa tiệc ấy đến nay đã hai chục năm

Sau khi Tây Sơn bại vong, tôi vô Nam

Long Thành trong gang tấc không thấy lại

Huống hồ tiệc múa hát trong thành

Quan Tuyên Phủ vì tôi bày cuộc mua cười

Trong tiệc, đám ca kỹ đều trẻ tuổi

Duy cuối chiếu có một nàng tóc hoa râm

Mặt gầy, thần khô, thân hìng bé nhỏ

Đôi mày phờ phạc không điểm tô

Ai biết đó là người trước kia nổi danh tài hoa đệ nhất một thời

Khúc xưa đàn lên, tôi tuôn nước mắt ngầm

Tai lắng nghe mà lòng chua xót

Bỗng nhớ lại chuyện hai mươi năm xưa

Đã từng thấy trong chiếu tiệc Hồ Giám

Thành quách suy dời, việc người đổi

Bao nương dâu đã biến thành biển xanh

Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch

Trong làng múa hát còn sót lại một người

Trăm năm thấm thoắt một hơi thở hay nháy mắt

Cảm thương việc cũ lệ thấm áo

Từ Nam trở về, đầu tôi bạc trắng

Trách chi người đẹp nhan sắc suy tàn

Hai mắt trừng trừng luống tưởng lại chuyện cũ

Khá thương giáp mặt mà không nhận được nhau!

CHÚ THÍCH:

-Long Thành: Thành Thăng Long từ thời nhà Lý, Long có nghĩa là Rồng nhưng tới thời Gia Long, thì Long đổi ra từ có nghĩa là Thịnh vì nhà vua muốn xóa bỏ hết các dấu vết của các triều đại cũ. Nguyễn Du vẫn dùng từ có nghĩa là rồng trong Long Thành, chứng tỏ ông là một kẻ sĩ chân chính và can cường. Về sau, Thăng Long tới thời Minh Mạng, năm 1831 thì cải danh là Hà Nội.

-Đàn Nguyễn: Trần Văn Khê nói đàn này có tên Nguyễn là do người sáng chế ra đàn này tên là Nguyễn Hàm, đời Tấn bên Trung quốc. Theo ông đàn này không dính dáng gì tới đàn nguyệt mà thuộc loại đàn Nguyễn Tỳ Bà tuy khung đàn cũng hình tròn.

-Cung Phụng Khúc: Khúc Cung Phụng đã được Dương Qúy Phi trình tấu cho Đường Minh Hoàng, và đã được Dương Thận, đời nhà Minh, nhắc lại trong bài thơ Ôn Tuyền:

...Ca vũ thanh lưu Cung Phụng khúc

Bội hoàn hồn đoạn thuộc xa trần

Đại ý là dù hồn Dương Qúy Phi đã bay theo bụi xe trên đường chạy loạn An Lộc Sơn nhưng tiếng hát và điệu muá Cung Phụng vẫn còn âm vang trong cung điện.

-Tiền triều: Nhà Lê.

-Giám Hồ: Hồ này nằm trước Văn Miếu hiện nay, diện tích khoảng 10,900m2, tên chữ là hồ Minh Đường hay hồ Văn nhưng dân gian quen gọi là hồ Giám vì trước thời nhà Nguyễn, Văn Miếu còn là Quốc Tử Giám luôn. Tuy Gia Long cho dời Quốc Tử Giám vào Huế nhưng Nguyễn Du vẫn lấy tên hồ Giám, tương tự như vẫn dùng chữ Long với nghĩa là rồng.

-Bia Tiến Phúc: Bia chùa Tiến Phúc, thuộc tỉnh Giang Tây, có thư pháp rất đẹp, khiến nhiều văn nhân tới chiêm ngưỡng. Tương truyền Phạm Trọng Yêm, quan nhà Tống được một người học trò nghèo tặng một bài thơ quá hay, bèn cho rập 1,000 bản sao bài văn viết trên bia để bán lấy tiền giúp người học trò nhưng chưa rập xong thì một đêm, bia bị sét đánh tan tành. Điển tích này dẫn ra đây có lẽ là Nguyễn Du muốn nói văn chương và kẻ sĩ không phải là đồ mua bán, trái với lẽ trời nên bị trời phạt.

-Trang Tích: Tích là người nước Việt nhưng làm quan cho nước Sở. Vua hỏi triều thần làm sao biết được lòng Tích còn vọng hướng nước Việt hay không thì có người trình rằng, “ Phàm người nhớ nước khi bệnh thường rên bằng tiếng mẹ đẻ.” Sở Vương cho người nghe lén khi Tích bệnh thì nghe thấy Tích rên la bằng tiếng Việt. Nguyễn Du, một lần nữa muốn nói người ta không bao giờ có thể quên tiếng mẹ đẻ. Thời Quang Trung, chữ nôm được coi là quốc ngữ trong khi Gia Long lên ngôi thì cấm dùng chữ Nôm và tất cả các văn bản về triều chính đều phải viết bằng tiếng Hán hết.

-Triền đầu: Vua Đường đãi yến thường thưởng cho các ca kỹ gấm vóc để làm khăn quấn đầu, về sau các tiền thưởng cho các ca kỹ đều gọi là triền đầu.

-Ngũ Lăng: Nơi có lăng tẩm 5 vua Hán, sau còn là nơi cư trú của các bậc vương hầu hay hào hoa, phú qúy, nằm phía tây thành Trường An.

Bạch Cư Dị trong Tỳ Bà Hành đã dùng điển tích này qua hai câu, “ Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu/ Nhất khúc hồng tiêu bất tri số ” mà Phan Huy Thực dịch là, “ Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua/ Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn.”

Lý Bạch, trong bài thơ Thiếu Niên Hành cũng dùng cụm từ này, và Lê Nguyễn Lưu dịch như sau:

Ngũ Lăng niên thiếu Kim thị đông

Ngân yên bạch mã độ xuân phong

Lạc hoa đạp tận du hà xứ?

Tiếu nhập Hồ cơ tửu tứ trung.

Ngũ Lăng bọn trẻ chợ Kim gần

Ngựa trắng yên vàng lướt gió xuân

Giẫm nát hoa rơi, đâu chỗ tới?

Cười đuà vào quán rượu giai nhân.

BS Nguyễn Văn Bảo và Nguyễn Đương Tịnh cũng đã dịch bài thơ này và kể lại chuyện dịch thơ khó khăn như thế nào.(Phụ bản II)

Một nhà thơ Việt, J. Leiba tức Lê Văn Bái cũng mượn ý tương tự viết bài thơ Ngũ Lăng Niên Thiếu rất đặc sắc để mô tả lối ăn chơi của các công tử hay thiếu gia.(Phụ bản III)

-Quan Tuyên Phủ: Quan Tổng Trấn. Tổng trấn Bắc Thành lúc đó là Nguyễn Huỳnh Đức với phó là Lê Chất. Các tham tri phụ tá gồm Nguyễn văn Khiêm, Phạm Văn Đăng và Đặng Trần Thường. Thường là người đã giết Ngô Thời Nhiệm sau cuộc đối thoại còn lưu trong sử sách khi quân nhà Nguyễn bắt được các tướng tá Tây Sơn.. Nguyên trước kia, Thường nhờ Nhiệm tiến cử với Tây Sơn nhưng Nhiệm thấy tư cách Thường có vẻ hèn hạ, thích luồn cúi nên từ chối, sau Thường ra phò tá Nguyễn Ánh và được cử chức Tham Tri Tào Binh lúc Nguyễn Du đi sứ. Thường sau gặp lại Nhiệm lúc đang là tù binh, hống hách hỏi, có ý nhắc lại chuyện cũ:

Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai?

Ngô Thời Nhiệm tức thời đáp lại:

Thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!

Vua Gia Long lúc đó đang muốn chiêu dụ các sĩ phu Bắc Hà nên hầu hết các quan tướng Tây Sơn chỉ bị phạt roi, riêng Nhiệm thì Thường ngấm ngầm cho roi tẩm thuốc độc nên chỉ có mình Nhiệm bị chết sau hình phạt. Về sau, chính Đặng Trần Thường lại bị Lê Chất, vốn có hiềm khích với Thường từ trước, tố cáo tội tham nhũng và bị Gia Long xử trảm. Tuy nhiên với Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ thì Gia Long cho quật mồ lên, nghiến nát thân cùng với Nguyễn Quang Toản rồi nhồi vào đạn đại bác bắn cho tan xác, còn ba cái sọ thì nhét vào ba cái vò đem giam tại Phú Xuân. Ba cái vò này, dân gian gọi là Ông Vò, được lưu giữ tới khi chiến tranh chống Pháp 1946 thì nghe nói được dời khỏi Huế rồi mất dạng luôn.

-Thành quách suy di: Gia Long cho lấp hết các cung vua Lê và phủ chúa Trịnh cùng các dinh thự trong thành cũ có từ đời Lý, Trần và biến thành đường xá, đồng thời xây thành mới tại chỗ khác, khởi đầu 1805, hoàn thành 1812.

-Quan tướng Tây Sơn: Các quan tướng Tây Sơn lúc đó về võ có thể là đô đốc Lộc, tướng Trần Quang Diệu, Ngô Văn Sở, đô đốc Tuyết, đô đốc Đặng Tiến Đông, nội hầu Lân, đô đốc Bảo, đô đốc Long, còn về văn gồm tiến sĩ Nguyễn Nễ, anh của Nguyễn Du, tiến sĩ Đoàn Nguyên Tuấn, anh vợ Nguyễn Du, Nguyễn Thiếp, Ngô Thời Nhiệm với các danh sĩ trong Ngô Văn Gia Phái, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn vv... là những người đã góp tài sức trong chiến thắng Đống Đa, và san định các văn bản bằng tiếng Nôm, dịch các sách Hán văn ra tiêng Nôm, lập ra Viện Quốc Âm Sùng Chính. Nguyễn Du đã ca tụng họ công khai trong bài thơ như Ý khí hào hoa át vương hầu/ Bọn trẻ Ngũ Lăng không sánh nổi rồi trọng nghĩa khí, xem tiền bạc như bùn đất. Nguyễn Du tất nhiên không dám nêu tính danh của họ, đồng thờ đổi danh Tổng Trấn thành Tuyên Phủ và Thăng Long thành Trường An.

TÂM SỰ NGUYỄN DU QUA BÀI THƠ

Đây là bài thơ dài nhất và đặc sắc nhất của Nguyễn Du trong tổng số 249 bài thơ chữ Hán của ông được tìm ra tới nay. Bài thơ này còn được chính tác giả viết lời tiểu dẫn nữa mà bài tiểu dẫn lại có ý và lời gần giống như bài thơ. Nguyễn Du viết thêm lời tiểu dẫn, dài dòng văn tự như vậy chắc cũng có ý tứ gì chứ? Tôi thiển nghĩ có lẽ là Nguyễn Du muốn chúng ta đọc đi đọc lại để mà suy nghĩ, để mà tìm hiểu tiên sinh cũng như tiên sinh đã tìm hiểu nàng Tiểu Thanh trong bài Độc Tiểu Thanh Ký.

Đọc lời tiểu dẫn, tôi thắc mắc là tại sao ông lại nói,“ Lúc bấy giờ, tôi núp trong bóng tối” trong khi anh ông, Nguyễn Nễ và Đoàn Nguyên Tuấn đều là quan tướng có chức vị cao trong triều Tây Sơn thì ông phải là tân khách đàng hoàng chứ? Ông không muốn lộ mặt ra có lẽ vì từng biết Gia Long đã hãm hại nhiều công thần nên áp dụng lời khuyên của cổ nhân tránh voi chẳng xấu mặt nào.

Tâm sự Nguyễn Du đối với triều Nguyễn

Qua phần chú thích bên trên, chúng ta thấy Nguyễn Du không có vẻ cảm phục Gia Long và triều Nguyễn.

Theo gia phả thì Nguyễn Du tự nguyện ra làm quan cùng nhà Nguyễn và ông đã đón đường vua Gia Long trên đường Bắc tiến tại huyện Phù Dung, Hưng Yên và được vua bổ nhiệm ngay làm tri huyện sở tại. Tất nhiên gia phả không dám viết khác dù Nguyễn Du có tự nguyện ra phò tá Nguyễn Ánh hay không. Nhưng Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện lại chép, “ Đến khi có lệnh gọi, ông không thể từ chối và bất đắc dĩ phải ra thôi.” Thêm nữa, nếu ta căn cứ trên bài thơ Ký Hữu/ Thanh Hiên Thi Tập viết cho bạn khi nhận quan chức có đoạn:

Thái phác bất toàn chân diện mục

Nhất châu hà sự tiểu công danh

Hữu sinh ất đái công hầu cốt

Vô tử chung tầm thỉ lộc minh

Ngọc phác khôn gìn nguyên diện mục

Thân đời khéo buộc nẻo công danh

Công hầu cốt ấy đâu sanh sẵn

Hươu vượn duyên kia quyết để dành

thì đúng là có phần miễn cưỡng trong việc ra làm quan cho nhà Nguyễn.

Giáo sư Trần Ngọc Ninh cũng cho rằng, “ Nguyễn Du ra làm quan với nhà Nguyễn lúc thế cùng, lực kiệt:

...Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên

Hùng tâm, sinh  kế, lưỡng mang nhiên

TẠP THI

Đại ý:

...Tráng sĩ đầu bạc buồn mà ngửa trông trời

Hùng tâm và sinh kế, cả hai đều mờ mịt.

đành ra làm quan ở Phù Dung, Hưng Yên rồi Quảng Trị, nhưng ông đã thấy rõ bộ mặt thật của bọn sai nha vô loại, đầu trâu mặt ngưạ...”

Nguyễn Du làm quan với nhà Nguyễn hai chục năm, bước đường hoạn lộ tương đối hanh thông, nhưng ông chỉ làm nhiệm vụ một cách tiêu cực tới nỗi nhà vua phải quở, “ Nhà Nước dùng người, ai giỏi thì trọng dụng, không hề phân biệt Nam Bắc. Khanh với Ngô Vị đã được trẫm biết tài mà bổ dụng, làm quan tới chức Tham Tri, biết gì thì cứ nói để làm hết phận sự của mình, sao lại cứ rụt rè, sợ sệt, chỉ dạ dạ vâng vâng thôi sao?”

Sự bất mãn của Nguyễn Du lúc làm quan với triều Nguyễn có nhiều lý do:

-Gia Long sau khi lên ngôi đã vin vào các cớ mơ hồ để hãm hại công thần, điển hình như vụ Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành và Binh bộ thượng thư Đặng Trần Thường.

-Các đình thần hùa vào nhau, kết tội lẫn nhau để tranh giành quyền lợi, xảy ra khắp Bắc, Trung, Nam chẳng hạn như vụ Lê Chất và Đặng Trần Thường.

-Giáo sư Trần Ngọc Ninh viết, “ Trong cái xã hội xưa, nhất là ở các nhà quan, quan ông thì xuất môn giai úy đồ ( Ninh Minh Giang Chu Hành), ra khỏi cửa thì phải lo vỗ về lông cánh để đối phó những xúc xiểm đồng liêu trong triều, còn các quan bà – 8 bà vợ của Tể tướng Xuân Quận Công – thì giành giựt nhau tình yêu của một ông chồng già đã mệt mỏi lúc về nhà.”

-Nạn kỳ thị Đàng Trong với Đàng Ngoài: người thuộc Đàng Trong hầu hết giữ những chức vụ trọng yếu trong khi Nguyễn Du bị coi là thuộc Đàng Ngoài. ĐNCBLT chép, “ Khi làm quan, ông thường bị quan trên quở trách nên lấy làm uất ức, phẫn chí. Chẳng những bị quan trên quở trách mà còn bị bọn nha lại khinh khi nữa...”

-Gia Long đã cho phá phách hết kinh thành Thăng Long cũ, là nơi mà Nguyễn Du đã sinh trưởng nên rất yêu mến không kém gì quê hương Hà Tĩnh. Ông đã than thở về việc này qua hai bài thơ ngắn khi ông trở lại Thăng Long trên đường đi sứ:

...Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất phiến cô thành một cố cung...

Thăng Long I

Ngàn năm cự thất thành quan lộ

Một giải tân thành lấp cố cung...

Quách Tấn dịch

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành

Do thị Thăng Long cựu đế kinh

Cù hạng tứ khai mê cựu tích

Quan huyền nhất biến tạp tân thanh

Thăng Long II

Thành mới, trăng xưa chiếu tỏ mờ

Thăng Long nghìn trước, chốn kinh đô

Dấu xưa khuất lấp đường xe ngựa

Điệu mới xô bồ nhịp trúc tơ

Quách Tấn dịch

Chẳng phải chỉ mình Nguyễn Du than thở về cảnh đời dâu biển này mà Bà Huyện Thanh Quan cũng tức cảnh, viết ra bài thơ Thăng Long Hoài Cổ trong đó có câu tương tự:

Dâú xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

-Về tinh thần đã phẫn uất, về vật chất ông thường bị cảnh đau ốm mà lương bổng chỉ đủ chi dùng trong việc thuốc thang nên gia đình gồm nhiều thê thiếp, đông con cháu nên thường phải chịu cảnh cơ hàn nên chán nản quan trường, đã ba lần xin cáo lui mà không được:

Thử thân dĩ tác phàn lung vật

Hà xứ trùng tầm hãn mạn du

Mạch hướng thiên nhai thán luân lạc

Hà nam kim thị đế vương châu...

đại ý là:

“ Tấm thân không mong thoát khỏi chậu lồng, mà dù có toát khỏi đi nữa thì đâu lại chẳng phải là đất vua, cho nên đành ráng chịu đựng cho qua ngày tháng.”

Những lý do trên khiến ông luôn luôn giữ một thái độ tiêu cực cho tới lúc bị bệnh dịch tả (theo sự dẫn chứng của BS Bùi Minh Đức), ông có vẻ không còn lưu luyến cuộc sống nên từ chối uống thuốc, tới khi hấp hối bảo người nhà sờ tay chân và khi người nhà thưa, “ Lạnh rồi...”, ông chỉ nói, “ Được rồi” và tắt thở.

Qua bài thơ, ta thấy Nguyễn Du , sống giữa ngã ba thời đại lịch sử: Lê, Tây Sơn, Nguyễn, đã không có vẻ nồng mặn với triều Nguyễn, xin cáo lui không được thì tìm đường khác để thoát khỏi những trói buộc tại cõi hồng trần.

Tâm sự Nguyễn Du đối với triều Lê

Các sách vở cổ điển xưa nay vẫn cho rằng Nguyễn Du có tâm sự hoài Lê.

Người đứng đầu chủ thuyết này là Đào Duy Anh, cũng là người đã phát giác ra hai câu cuối trong bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du, không có ghi chép trong gia phả mà chỉ nói là khẩu chiếm của Nguyễn Du trước khi lià đời thôi.

Sau đó các nhà khảo cứu khác như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim cũng đồng quan điểm và căn cứ vào bài Độc Tiểu Thanh Ký với hai câu cuối “ Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” mà suy ra rằng tuy tiên sinh ra làm quan với triều Nguyễn nhưng cả đời đã ôm một mối hận lòng vì đã làm trái với luân thường đạo lý là tôi trung không được thờ hai vua, nên tự cho mình không có phẩm hạnh bằng nàng Tiểu Thanh dù chết cũng nhất định giữ lòng trung trinh với một chồng và tiên sinh tự hỏi mình hiểu lòng nàng Tiểu Thanh ba trăm năm trước, nhưng sau mình ba trăm năm thì biết có ai hiểu lòng mình chăng? Do các sách của các tác giả trên được dùng giảng dậy trong các trường học nên nhiều thế hệ sau đó đều theo quan điểm hoài Lê này.

Giáo sư Trần Ngọc Ninh cũng bênh vực lập luận Nguyễn Du hoài Lê vì khi ra làm quan dưới triều Nguyễn, Nguyễn Du đã bất mãn, phẫn chí bởi những lý do đã nêu trên. Giáo sư cũng nói tuy Nguyễn Du và nhiều sĩ phu Bắc Hà đã rời bỏ giấc mộng phục Lê nhưng lòng vẫn còn nặng với nhà Lê và tiên sinh hận đã không làm được như Khuất Nguyên thà trầm mình xuống sông Tương còn hơn là nhìn cảnh nước mất nhà tan qua các câu thơ:

...Liệt nữ tòng lai bất nhị phu

Hà đắc thê thê tướng cửu châu

Vị tất cố nhân tri hữu ngã

Nhãn trung Tương thủy không du du.

(Biện Giá)

Đại ý nói, “ Người đàn bà trinh liệt xưa nay không có hai chồng/ Hà tất phải đi chín châu kiếm thờ vua khác?/ Chưa chắc gì người xưa biết có ta? Trước mắt ta, dòng sông Tương dằng dặc trôi không ngừng.

. Tấm lòng trung trinh này cuả Nguyễn Du đối với nhà Lê đã được bày tỏ trong các câu thơ sau do Quách Tấn dịch:

...Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh Trăng trong lòng giếng cổ

Tỉnh thủy vô ba đào... Nước giếng không ba đào...

Và:

...Trạm trạm nhất phiến tâm Vằng vặc một mảnh lòng

Minh nguyệt cổ tỉnh thủy... Giếng trong trăng rọi bóng...

Vẫn theo giáo sư, “ Trong nền văn hóa Đông phương thuở xưa, chữ Trinh đối với người con gái cũng như chữ Trung đối với người con trai. Nguyễn Du không được chết vì vua, vì nước nên hổ thẹn với chính mình:

...Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm

Tiêu điều lữ muộn đối thời ca.

(Tạp Ngâm)

Đại ý là

Hùng tâm lạc lõng làm cùn cây kiếm ngắn/ Nỗi buồn lữ thứ tiêu điều khi nghe những bài hát thời nay.

Giáo sư còn cho rằng Hồ Xuân Hương đã nói rõ cho Nguyễn Du biết là cô chỉ có một lòng thờ nhà Lê qua bài thơ Bánh Trôi:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn/Nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Quan điểm hoài Lê nay bị các tác giả lớp sau như Hoài Thanh, Trương Chính, Mai Quốc Liên vv... bác bỏ nhưng cũng không có các chứng liệu vững chắc mà chỉ là suy đoán. Quách Tấn, dựa theo bài tham luận của Trương Chính cũng cho rằng nếu lấy thơ văn làm bằng chứng thì Nguyễn Du không có tâm sự hoài Lê. Ngoài ra, trong bài Á Phủ Mộ, Nguyễn Du còn chê những kẻ không biết lẽ vô thường, cảnh thay đổi triều đại cũng là thường tình, đâu cứ khăng khăng nhất tâm trung sở sự được? Cũng theo Quách Tấn, kẻ  phải sáng suốt nhận định thời cuộc khi vua Lê chỉ còn ngồi trên ngôi làm vì khiến vận nước đã mạt từ lâu rồi.

Trong tạp chí Truyền Thông, Lê Phụng tuy cùng biên tập với giáo sư Trần Ngọc Ninh nhưng có quan điểm khác là qua thơ văn của Nguyễn Du, tác giả không thấy bài thơ nào chứng tỏ Nguyễn Du hoài Lê.

Tâm sự Nguyễn Du đối với nhà Tây Sơn

Chúng ta hãy trở lại từ đầu bài thơ về cô Cầm, người ca kỹ Long Thành.

Trước hết là Danh từ Long Thành, dù Gia Long đã bắt viết chữ Long có nghĩa là Thịnh, Nguyễn Du vẫn dùng chữ Long có nghiã là rồng.

Thứ hai, nàng Cầm là một giai nhân nổi tiếng tài hoa như thế mà trong thành lại không ai biết tên họ? Chuyện đó thật có vẻ khó tin. Rồi lại cây đàn nàng sử dụng, cũng lại gọi một cách mơ hồ là đàn Nguyễn, cái tên đàn lạ hoắc đối với người Việt Nam. Để giải thích cái tên này, nhạc sĩ Trần Văn Khê phải bới các đống sách về nhạc Tàu, kiếm ra tên một người tên Nguyễn Hàm, đời Tấn rồi gán vào và kết luận đàn Nguyễn là do tên Nguyễn Hàm mà ra và đây là loại Nguyễn Tỳ Bà có hộp đàn hình tròn. Tuy nhiên ta có thấy người Việt nào chơi đàn gọi là đàn Nguyễn Tỳ Bà đâu, hay tên đàn này chỉ thấy có một lần độc nhất trong bài thơ này thôi.

Một số học giả khác lại giải thích đó là đàn Nguyệt. Nếu vậy, tại sao Nguyễn Du lai không gọi thẳng ra là đàn Nguyệt?

Tôi thiển nghĩ có thể Nguyễn Du đã ám chỉ cây đàn Nguyễn và nàng Cầm chính là hình ảnh tượng trưng cho triều Nguyễn Tây Sơn. Lúc nàng Cầm gảy đàn cho quan tướng Tây Sơn thưởng thức chính là thời Tây Sơn đang lừng lẫy, chiến thắng cả trong Nam lẫn ngoài bắc, thống nhất giang sơn về một mối, còn khúc đàn Cung Phụng hay như tự trời xuống chính là bản Khải Hoàn Ca với chiến thắng oanh liệt chưa từng có tại gò Đống Đa, trong một trận phá tan hơn 200,000 quân bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Qúy Châu và Vân Nam.Tất cả những ấn tượng này đều được Nguyễn Du gói ghém kín đáo trong những lời tiểu dẫn cũng như trong bài thơ:

- Người gảy đàn Long Thành ấy, tên họ gì không rõ. Vì nàng Cầm chính là biểu tượng cho nhà Tây Sơn mà Nguyễn Du không dám nói rõ ra.

- Tài danh nàng lừng lẫy một thời. Nhà Tây Sơn cũng một thời lừng lẫy do các chiến công.

- Nàng ăn đứt mọi người với cây đàn Nguyễn. Nhà Tây Sơn lúc đó là vô địch.

- Lúc bấy giờ tôi đứng trong bóng tối. Khi đó tôi chưa nhận biết ra triều Tây Sơn một cách rõ ràng, chưa hiểu họ xấu tốt thế nào hay họ phất cờ khởi nghĩa có chính đáng hay không.

- Áo hồng phản ánh mặt hoa đào: Cô Cầm đã hiện ra như một ánh hào quang rực rỡ khiến cho mọi người đều mê say ngây ngất. Nàng không đẹp lắm, nàng không phải là một mỹ nhân nhưng nàng có phong cách phóng khoáng, có tiếng đàn tuyệt diệu và tư cách đường hoàng, chững chạc, coi thường hết mọi người rất xứng đáng tên gọi giai nhân, một vật báu của Trường An. Cô Cầm đang lên đỉnh cao nghệ thuật cũng như Tây Sơn đang lên cao chót vót trong thời cuộc.

- Ba mươi sáu cung xuân hun đúc thành bảo vật Trường An ám chỉ không ai hết ngoài vua Quang Trung.

- Nguyễn Du còn công khai ca ngợi các quan tướng Tây Sơn có ý khí hào hoa át vương hầu/ Bọn trẻ Ngũ Lăng không sánh nổi. Tả hữu thi nhau ban giải thưởng /Tiền bạc coi khinh như bùn đất.

- Nếu trong bài Độc Tiểu Thanh Ký, Nguyễn Du đã gửi gấm tâm sự trong hai câu cuối, thì trong bài này cũng vậy, qua hai câu thơ:

...Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng

Khả liên đối diện bất tương tri

gợi ý là bây giờ ông đã rõ triều Nguyễn Tây Sơn có một thời lẫy lừng, oanh liệt đến thế mà than ôi ông cũng phải giả ngây không dám một lời ca tụng, coi như không hề biết tới vậy.

Sử gia Trần Trọng Kim đã công khai nhìn nhận nhà Tây Sơn và gọi họ là triều Nguyễn Tây Sơn, đồng thời đã ca tụng hết lời trong bộ Việt Nam Sử Lược khi nói Quang Trung có sự nghiệp hiển hách không khác gì Đinh Tiên Hoang và Lê Thái Tổ. Tôi cũng nghĩ nếu mà Nguyễn Du sống lại bây giờ thì bài thơ Long Thành Cầm Giả Ca sẽ được viết lại khác hẳn đi.

Linh mục Giáo sư Thanh Lãng trong Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam viết:

“...Từ xưa người ta cứ cho rằng Nguyễn Du u uất vì mang mối tình với nhà lê, nhưng trong suốt sự nghiệp thơ văn chữ Hán của ông không có một nét nào cho thấy ông ghét Nguyễn, thương Lê cả. Ngay đến nhà Tây Sơn, Nguyễn Du còn chẳng tỏ vẻ gì thù ghét, mà còn đi ăn yến, dự tiệc với các quan Tây Sơn như ông đã mô tả trong Long Thành Cầm Giả Ca. Hơn thế nữa, khi Tây Sơn thất bai, Nguyễn Du còn cảm thấy đau đớn, tiếc thương, nhất là khi nhìn thấy tất cả cái cơ nghiệp vĩ đại cuả nhà Tây Sơn chỉ còn lại một cô ca sĩ già khiến nhà thơ phải đau lòng để nước mắt rơi ướt áo...”

Từ Điển Văn Học, bộ mới xuất bản 2004, nêu ý tương tự:

“…LTCGC là tác phẩm viết về một con người tài hoa một thời, bây giờ nhan sắc tiều tụy khiến nhà thơ tỏ lòng ngậm ngùi thương xót và nghĩ tới cuộc đời dâu bể...Tuy nhiên nó có một khía cạnh đáng chú ý là trong bài này, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, Nguyễn Du nhắc đến nhà Tây Sơn. Bài thơ không có tí gì gọi là thù địch với Tây Sơn, mà trái lại, trong khi thương xót cho số phận người ca nữ, nhà thơ lại có vẻ như ngậm ngùi cho sự sụp đổ của họ. Phải chăng đến giai đoạn này, sau khi ra làm quan với nhà Nguyễn do đó có nhiều thể nghiệm về cuộc sống, cho nên cách nhìn nhận của nhà thơ đối với các triều đại có thay đổi gần với chân lý hơn?...”

Nguyễn Huệ Chi, trong  Nguyễn Du và Thế Giới Nhân Vật của Ông trong Thơ Chữ Hán cũng viết, “ Nguyễn Du không hề lộ ra một thái độ hằn học nào đối với triều đại Tây Sơn. Hình ảnh quan tướng Tây Sơn bắt gặp thoáng qua trong một lần ông ghé thăm người anh ruột ở Thăng Long vào khoảng 1792-1793 được vẽ lên rất mực hào hoa phong nhã, nếu không nói là còn ẩn giấu một phần thiện cảm...Và như Hoài Thanh đã nhận xét, sau này khi Tây Sơn bị lật đổ, ta lại thấy Nguyễn Du có cái tiếng thở dài rất đỗi bùi ngùi...Như vậy có phải thực tế cuộc đời trong bao nhiêu năm làm qaun buồn tẻ dưới triều nhà Nguyễn, đã lay chuyển dần tiềm thức của Nguyễn Du, làm cho ông có một cái nhìn phần nào khác trước đối với Nguyễn Huệ?”

***

Nguyễn Du khi lập thân đã đứng trước một ngã ba thời đại: ba nhà Lê – Nguyễn - Tây Sơn, đầy kịch tính vì những biến cố dồn dập, mãnh liệt, chớp nhoáng khiến những chứng nhân của giai đoạn lịch sử này hầu như đều bị choáng váng và cảm thấy rất khó khăn trong việc chọn lựa chỗ đứng, con đường lập thân chứ không riêng gì Nguyễn Du cho nên ông cũng bị ảnh hưởng bởi cơn lốc chính trị đành phải tuỳ cơ ứng biến.

Giai đoạn đầu, khi ông còn làm võ quan tại Thái Nguyên dưới quyền Nguyễn Đăng Tiến thì Tây Sơn tiến quân ra Bắc lần thứ nhất và ông đã quyết chí phù Lê, chống lại Tây Sơn nhưng thất bại. Tuy vậy ông vẫn tìm đường sang Trung quốc để gặp Lê Chiêu Thống nhưng chưa tới Bắc Kinh thì vua Lê đã bị nhà Thanh đánh lừa, dụ gọt đầu để tóc như người Mãn Thanh và chia cách vua tôi ra mỗi người một nẻo nên ông cùng Nguyễn Đăng Tiến chán nản không tìm đi theo vua Lê nữa.

Khi trở lại quê hương, ông nằm tại quê vợ, chờ thời thế tới khi Gia Long tiến ra Bắc năm 1802 thống nhất sơn hà thì vua Quang Trung đã băng hà trước đó cả 10 năm nên ông cũng không còn con đường sự nghiệp nào khác là ra làm quan với nhà Nguyễn, với một thái độ miễn cưỡng nhưng vẫn ôm một chút hoài vọng là mình có thể đem tài năng ra cứu dân, cứu nước. Sau đó qua trải nghiệm suốt hai chục năm trên quan lộ, ông thấy thất vọng, chán nản chỉ muốn cáo lui về quê sống một cách thoải mái, tự do nhưng lại không được.

Trong thời kỳ bi quan, tiêu cực này ông nhìn lại mới thâý nhà Tây Sơn chính là triều đại lẽ ra ông nên ra phò tá nhưng số mệnh đã an bài rồi.

Trong bài Dạ Hành ông cất tiếng than:

Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân

Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu

Đại ý:

Trên lối cũ, gió lạnh dồn cả vào một người

Đêm tối mù mịt không biết bao giờ mới sáng

Và thở dài ngao ngán:

Nhất sinh u tứ vị tằng khai

Nghiã là:

Trọn kiếp mối u sầu chưa hề gỡ ra

Ông không thiết sống nữa, bệnh không chịu uống thuốc, chọn con đường tự giải thoát khỏi các bi ai, phẫn uất, bất đắc chí của cuộc đời đầy sóng gió.

***

Nếu người nào đã đọc bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị thì sẽ nhận ra ngay giữa hai bài thơ có nhiều sự tương đồng:

Về hình thức cả hai bài đều viết theo một thể cổ phong là ca hành.

Cả hai bài đều có lời Tiểu Dẫn

Về nội dung, cả hai bài đều diễn tả thân phận của một ca kỹ với ngón đàn tuyệt diệu và khúc hát chỉ dành cho bậc hào hoa hay công hầu. Ngón đàn với nhịp điệu thay đổi đều được mô tả kỹ càng. Cả hai nàng đều đã trải qua một thời huy hoàng, tiến lên đỉnh cao của nghệ thật, nhan sắc diễm lệ để rồi cùng tàn tạ với thời gian cả về tài lẫn sắc.

Tuy nhiên giữa hai bài vẫn có sự khác biệt:

Bạch Cư Dị chỉ gặp nàng ca kỹ có một lần, trên bến Tầm Dương rồi nghe nàng kể chuyện về đời mình, khi luống tuổi phải lấy một khách thương mà người này trọng tiền bạc hơn là vợ nên thường vắng nhà vì công việc làm ăn trong khi Nguyễn Du đã gặp nàng Cầm hai lần cách nhau hai chục năm, đều trong một dạ tiệc nhưng thời thế đã thay đổi – nhà Nguyễn đã thay thế cho Tây Sơn – và nàng khi luống tuổi phải ôm đàn hát dạo để kiếm kế sinh nhai.

Điểm khác biệt căn bản của hai bài thơ là trong khi Bạch Cư Dị thấy mình cũng rơi vào hoàn cảnh giống như người ca kỹ vì đang bị biếm chức đi làm Tư mã Giang Châu, nên ngậm ngùi cho số phận của người ca kỹ và của chính mình mà cảm hứng viết ra thơ còn Nguyễn Du thì không những thương xót cho thân phận nàng Cầm nhưng cho cả cuộc đời bể dâu trong đó có sự suy sụp mau chóng của triều đại Tây Sơn với nỗi niềm luyến tiếc.

Có nhà phê bình văn học đã nói, “ Giả sử Nguyễn Du không viết Truyên Kiều thì riêng bài thơ Long Thành Cầm Giả Ca cũng đủ để lưu danh ông với hậu thế.”

Bài thơ vưà tự sự, vưà trữ tình, đã nói lên một cách trung thực nỗi niềm thương xót cho chính cuộc đời ông, cho cô Cầm, cho cả một triều đại cùng bị chi phối khắc nghiệt bởi số mệnh, từ hưng xuống vong, từ thành tới bại, từ huy hoàng xuống tăm tối, từ vui tươi xuống u buồn, từ trẻ đẹp xuống già xấu trong đó tài năng và sắc đẹp càng dễ bị hủy diệt một cách mau chóng hơn.

Đúng là:

Trăm năm một cuộc biển dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

PHỤ BẢN I: Bài thơ dịch của Hoàng Xuân Thảo

Theo thể lục bát

Long Thành nức tiếng giai nhân

Mà nào ai biết tính danh của nàng?

Đàn cầm luyện ngón đã sành

Cả thành quen miệng gọi luôn là Cầm.

“ Cung Phụng” xưa học trong cung

Khúc đàn tuyệt diệu, từ vùng Thiên Thai

Gặp nàng nhớ buổi thiếu thời

Môt đêm hồ Giám tiệc vui tưng bừng.

Nàng chừng hăm mốt xuân xanh

Mặt hoa đào phản ánh hồng áo tung

Men tô cặp má ửng hồng

Tay ngà nhẹ lướt nhịp nhàng năm cung.

Khoan như gió thoảng rừng tùng

Trong như đôi hạc cõi không mịt mùng

Mạnh như sét đánh bia tan

Buồn như khi bệnh tiếng ngâm đầu đời.

Người nghe quên cả mệt nhoài

Trung Hoà xưa cũng khúc này chẳng sai

Tây Sơn quan tướng đều say

Truy hoan tới sáng vẫn đòi nghe thêm.

Tranh nhau ban thưởng liên miên

Coi như bùn đất, bạc tiền vãi vung

Hào hoa át cả vương tôn

Còn như bọn trẻ Ngũ Lăng sao bằng?

Dường như băm sáu cung xuân

Đúc thành vật báu Trường An người này

Tiệc xưa hai chục năm rồi

Tây Sơn sau bại, tôi dời vô Nam.

Long Thành gang tấc chẳng màng

Huống chi ca múa trong thành thiết chi

Tiệc Tuyên Phủ tiễn tôi đi

Mời nhiều ca kỹ đang thì tuổi xuân.

Chiếu cùng riêng có một nàng

Tóc hoa râm, mặt võ vàng héo hon

Mày thô chẳng thiết điểm trang

.Từng là đệ nhất tài danh, ai ngờ?

Chợt đâu nổi khúc nhạc xưa

Tai nghe, lòng chạnh xót xa khóc thầm

Nhớ bên hồ Giám gặp nàng

Mà nay hai chục năm trường đã trôi.

Bao lần dâu biển tơi bời

Thành siêu, quách đổ, việc đời đổi nhanh

Tây Sơn cơ nghiệp tan tành

Mà riêng ca vũ một nàng sót đây!

Trăm năm một chớp mắt thôi

Cảm thương chuyện cũ lệ rơi chan hoà

Nam ra, tôi tóc bạc phơ

Trách chi người đẹp phai mờ dung nhan.

Trừng trừng hai mắt ngỡ ngàng

Thương thay, đối mặt tưởng chừng chẳng quen!

Phụ Bản II: Nguyễn Văn Bảo và Nguyễn Đương Tịnh dịch thơ Lý Bạch (Thiếu Niên Hành) và bàn chuyện dịch thơ.

Lý Bạch Thiếu Niên Hành Kỳ II

Ngũ Lăng niên thiếu Kim thị đông

Ngân yên bạch mã độ xuân phong

Lạc hoa đạp tận du hà xư?

Tiếu nhập Hồ cơ tửu tứ trung.

Chợ Kim, thằng nhóc từ hướng đông

Trên yên ngựa trắng lướt xuân phong

Đạp hoa nát bấy chơi đâu thế?

Cười cợt nhào vô quán rượu nồng.

Nguyễn Văn Bảo

Bầy qủy Ngũ Lăng phía chợ đông

Ghìm cương bạch mã vượt băng đồng

Vó câu đạp nát hoa lầy đất

Cợt nhả nhào vô quán rượu nồng.

Nguyễn Đương Tịnh

LỜI BÀN của

Nguyễn Đương Tịnh:

Ba chúng tôi chỉ gặp nhau trên Diễn Đàn, thấy bài thơ này hay qúa, từng đã dịch lâu rồi, hôm nay nhân đọc câu chuyện bàn về dịch thơ giữa hai anh Nguyễn Văn Bảo và Hoàng Ngọc Khôi nên nổi hứng dịch lại bài thơ. Dịch lại thế mà vẫn không dịch được ý chợ Kim và gió xuân. Dịch thơ Đường qủa thật là khó!

Nguyễn Văn Bảo:

Bài thất ngôn tứ tuyệt này chứa một kỷ niệm khó quên giữa Con Cò và Hoàng Xuân Thảo. Ngay từ đầu, Cò đã thích cái mùi vị trào phúng của bài thơ. Họ Lý tả một nhãi con cưỡi ngựa trắng, yên bạc từ phía đông chợ Kim đi du xuân, đạp nát hoa rồi cuối cùng cười cợt bước vào quán rượu ả Hồ. Cò dịch xong bèn vội vã gửi cho HXT xem, bài dịch thoạt đầu như sau:

Ngũ Lăng niên thiếu từ hướng đông

Trên yên ngựa trắng lướt gió xuân

Đạp hoa nát bấy, đi đâu thế?

Quán rượu cười duyên, bước vào trong.

HXT không bình phẩm lời nào, chỉ nhắn lại, “ Thầy Cò nên thận trọng. Bài thơ này đã được nhiều học giả uyên thâm Hán học dịch mà chưa có bài dịch nào đáng lưu giữ. Người thì dịch quá nghiêm túc, không mô tả được nét trào phúng, người thì cương quá độ làm cho ý bài dịch khác xa nguyên tác. Riêng hai từ Tiếu Nhập đã có tới bốn lối dịch khác nhau, riêng tôi nghĩ hai từ Nhào Vô là sát ý nhất.”

Cò hiểu ngay những gì HXT cho là chưa tới trong bài dịch của mình. Câu đầu thiếu chữ Chợ Kim.(Nếu không đủ chỗ cho cả Ngũ Lăng lẫn Chợ Kim thà hi sinh Ngũ Lăng chứ không nên bỏ Chợ Kim.) Câu 2 chữ gió phạm luật bằng trắc. Câu chót chỉ tạm được thôi, cũng phạm luật bằng trắc mà vẫn không diễn tả được cáí ý muốn ve gái.

Cò bèn thay Ngũ Lăng bằng Chợ Kim, niên thiếu bằng thằng nhóc, mượn từ nhào vô của HXT, đưa hai chữ cợt nhả vào để vạch mặt thằng nhóc lộ vẻ khoái trá mà nham nhở, riêng từ xuân phong để nguyên vì nó đã Việt hoá, ai ai cũng hiểu.

Thế là bài dịch hoàn tất, HXT tỏ vẻ thích thú và bàn sau khi đọc bài mới, “ Tuy rằng dịch thơ Đường phải cực kỳ nghiêm chỉnh nhưng chữ thằng nhóc rất đắc địa trong bài thơ trào phúng này.”

Hoàng Xuân Thảo:

Ta hãy đọc tiếp hai bài dịch nữa:

Bên chợ Kim, chàng trẻ Ngũ Lăng

Cưỡi con ngựa trắng qua gió xuân

Hoa rơi giẫm hết, đi đâu tá?

Cười vào trong quán rượu cô nàng.

Trần Trọng San

Ngũ Lăng, những gã thiếu niên

Phía đông Kim Thị bước liền vó câu

Đạp hoa vội vã chơi đâu?

Cười mừng vào xóm ả đào, tiệm chơi.

Trần Trọng Kim

Đọc thoáng qua ba bài thơ của ba học giả Lê Nguyễn Lưu, Trần Trọng San, Trần Trọng Kim ta thấy ngay không có bài dịch nào lột tả được hết ý của bài thơ nguyên tác, chưa nói thêm là khi đọc lên ta có cảm tưởng gượng gạo và lời thơ có vẻ ngây ngô, không thể gọi là một bài thơ hay.

Trong bài dịch của Lê Nguyễn Lưu, thiếu sót chữ đông mà Kim Thị đông mới là chỗ ở của các bậc vương hầu hay đại gia; ông đổi yên bạc ra yên vàng, rất hiếm có trong thực tế, ông dùng danh từ giai nhân để thay cho Hồ cơ - mà Trần Trọng Kim gọi là ả đào – thì có phần hơi quá đáng.

Trong bài dịch của Trần Trọng San, cũng bỏ chữ hướng đông, bỏ cả yên bạc ngụ ý đây là bọn công tử nhà giầu, tuy ông dịch tiếu nhập là cười vào rất đúng nghĩa nhưng không lột tả được cái cử chỉ phàm phu tục tử khi bước vào quán rượu để ve gái, và ông cũng dịch Hồ cơ là cô nàng rất gượng ép.

Trong bài của Trần Trọng Kim, ông không tả ngựa trắng với yên bạc là nhữ ng vật biểu trưng cho bọn công tử nhà giầu, lại không có gió xuân để nói bọn trẻ đi du xuân để tìm rượu và gái, còn câu cuối tựa như vẽ chân thêm cho rắn chứ không đúng ý của nguyên tác.

Phân tích như vậy để thấy rằng lời bàn của BS Nguyễn Đương Tịnh là rất chí lý, dịch thơ Đường quả thật là khó. Tuy nhiên nếu so sánh ba bài thơ này với hai bài cuả hai BS Tịnh và Bảo thì tôi nghĩ rằng hai bài của hai anh tới hơn, đắc ý và lời hơn, có vẻ là một bài thơ Việt hơn mặc dầu hai anh cũng đã tự nêu lên những khiếm khuyết trong bài thơ dịch của mình.

Hoàng Xuân Thảo

Tấm lòng của Thương nhân họ Thúc và một cuộc tình đẫm nước mắt

PGS.TS Nguyễn Đức Thuận

Trường Đại học Hải Phòng

Quãng đời 15 năm “mây trôi bèo nổi” đầy bi kịch xót xa của nàng Vương Thúy Kiều, trong tác phẩm Truyện Kiều(1) của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, cũng có lần nhờ vào một trái tim si mê nhan sắc và một tấm lòng nặng nghĩa, nặng tình mà nàng đã thoát được cảnh sống ô nhục khi ở lầu xanh. Người ấy chính là thương nhân họ Thúc, tên là Kỳ Tâm, quê ở “huyện Tích, châu Thường”.

alt

Thúc Kỳ Tâm là một chàng trai “cũng nòi thư hương”, có theo đòi đèn sách văn chương, sau theo nghiêm đường tới Lâm Tri mở một ngôi hàng buôn bán. Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, người đẹp từ xưa tiếng đồn như vị tướng tài ba. Thúy Kiều là một tuyệt thế giai nhân, khi ấy nàng đang phải sống những tháng ngày ê chề, nhục nhã ở nơi lầu xanh, với “cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm”, với biết bao khách làng chơi “dập dìu”, như lũ bướm ong lả lơi tìm đến để hút nhụy hoa, kiếm chút nhan sắc trên thân thể nàng. Đau đớn và tủi nhục, nàng cảm thương cho chính thân phận bất hạnh của mình:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,

Giật mình, mình lại thương mình xót xa…

Giữa những ngày đau khổ đó, Thúc Kỳ Tâm đã đến với nàng. Lúc đầu, cũng chỉ là chuyện “gió trăng” như bao khách làng chơi khác, nhưng rồi không chỉ say mê nhan sắc của Thúy Kiều, mà vốn là kẻ có học, am hiểu văn chương, chàng làm thơ, chơi đàn… cùng nàng trở thành tri âm tri kỷ:

Khi gió gác, khi trăng sân,

Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ.

Vào một ngày đầu hạ, “quyên đã gọi hè”, hoa lựu “lập lòe đâm bông”, mụ Tú bà muốn moi nhiều tiền của Thúc sinh nên đã cho chàng chiêm ngưỡng thân thể ngọc ngà của Kiều khi nàng tắm thoát y:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà

Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên.

Với vẻ  đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” ấy, Thúc sinh hồn thơ thăng hoa, chàng đã “thảo một thiên luật Đường” để ngợi khen, mà nàng cho rằng đó là một áng thơ hay, “lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu”. Nhân đây, Thúc sinh ngỏ ý muốn lấy nàng làm vợ lẽ. Sau bao tính toán đắn đo, nào là “Thiếp như hoa đã lìa cành/ Chàng như con bướm lượn vành mà chơi”, nào là “Cúi đầu luồn xuống mái nhà/ Dấm chua lại tội bằng ba lửa nồng”, sau cùng nàng đặt cả niềm tin vào tấm lòng chàng, người có thể đưa nàng “thoát vòng trần ai” ô nhục này:

Thương sao cho vẹn thì thương,

Tính sao cho trọn mọi đường thì vâng.

Thúc sinh đã ném tiền, rất nhiều tiền cho Tú bà để vớt Kiều ra khỏi cửa lầu xanh, với ý chí “đá vàng đã quyết, phong ba cũng liều”! Để rồi, từ hành vi và tấm lòng ấy mà kết cục chàng và nàng đã có những tháng ngày hạnh phúc bên nhau:

Hương càng đượm lửa càng nồng,

Càng xôi vẻ ngọc càng lồng màu sen.

Đồng tiền của Thúc sinh, tấm lòng của Thúc sinh đã đem đến cho Kiều thoát khỏi cuộc sống nơi lầu xanh. Nhưng niềm vui chưa trọn vẹn. Thúc ông biết chuyện, nổi giận và đưa nàng ra công đường, muốn trả nàng về nơi lầu xanh! Thúc sinh đau khổ, đẫm nước mắt khóc thương nàng:

Khóc rằng:- “Oan khổ vì ta,

Có nghe lời trước, chẳng đà lụy sau…”

Những giọt nước mắt “sụt sùi” của Thúc sinh rõ ràng bật ra từ một tấm lòng yêu thương đích thực của nghĩa tình vợ chồng. Chàng đã nhận về mình tất cả tội lỗi, “để nàng cho đến nỗi này, vì tôi”, là do chàng mà Kiều phải hứng chịu cơn thịnh nộ của cha, rồi phải ra nơi công đường tủi hổ, bẽ bàng… Nếu đồng tiền của Thúc sinh trước đó là phương tiện để đưa nàng ra khỏi chốn lầu xanh, thì giờ đây tấm lòng sâu nặng nghĩa tình của chàng đã có sức thuyết phục người cha và viên quan sử kiện “mặt sắt đen sì” kia “dẹp nỗi bất bình”, “dẹp lời phong ba” để cho nàng được trở về đoàn tụ với gia đình. Bởi vì, với Thúc Kỳ Tâm và Thúy Kiều giờ đây “họ đã thành tình duyên thật sự, tình duyên chính thống rồi”(2), và đó là “tình thật”(3), tình ấy đâu phải tình bướm ong, là nghĩa tình không giả dối của chàng thương nhân họ Thúc…

Với tình cảm chân thành và đầy yêu thương ấy của Thúc sinh đối với Thúy Kiều, đổi lại họ đã có một năm sống hạnh phúc bên nhau. Song, vốn là một người thông minh, nhạy cảm, không vì “vui rượu sớm cờ trưa” mà quên chuyện phải trái trong nhà, Kiều đã chủ động khuyên Thúc sinh về quê xin phép người vợ cả là Hoạn Thư để cho nàng được làm vợ lẽ, với nghĩ suy “sao cho trong ấm thì ngoài mới êm”. Xã hội phong kiến trước đây cho phép người đàn ông đa thê, song trong phạm vi gia đình cũng cần có sự minh bạch. Một cuộc tiễn đưa đầy lưu luyến của nghĩa tình chồng vợ đằm thắm đã diễn ra, được thi sỹ thiên tài Nguyễn Du miêu tả qua 8 dòng thơ lục bát, mà nhiều người đã cho đó là một trong số những đoạn thơ hay nhất trong tác phẩm truyện Kiều:

Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Thúc sinh đã đi xa rồi mà Kiều vẫn còn đứng đó “trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh”. Rồi đêm đến, vầng trăng trên trời cao giường như chia “xẻ làm đôi”, để “nửa in gối chiếc” đơn lẻ của nàng Kiều và “nửa soi dặm trường” trên con đường xa muôn dặm của chàng Thúc… Phải là một cuộc “tình thật” và đẹp lắm lắm thì tâm hồn và ngòi bút của nhà thi sỹ mới có những dòng thơ tuyệt vời như vậy!

Nhưng sự đời thật trái ngang, chàng Thúc về quê đã không tính hết được sự trừng phạt đòn ghen của Hoạn Thư, (“vốn dòng họ Hoạn danh gia”, là “con quan Lại bộ”) mưu gian, kế hiểm, lập cách hành hạ đánh ghen hai người với ý định “làm cho nhìn chẳng được nhau, làm cho đầy đọa cất đầu chẳng nên”. Một mặt, Hoạn Thư “vả miệng bẻ răng” những kẻ “thêu dệt thị phi” mách bảo nàng về chuyện “thêm hoa” của chồng để tâng công, nhằm giữ thể diện cho mình và để thực hiện mưu kế “cho người thăm ván bán thuyền biết tay”.   Mặt khác, Hoạn Thư cho lũ “ác nhân” Ưng, Khuyển tới bắt cóc Kiều ở Lâm Tri đem về quê hành hạ, đánh đập nàng đến mức “thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh”, rồi cho xuống làm Hoa nô ở cùng với bọn thị tỳ, kẻ dưới. Thúc sinh trở lại Lâm Tri thì một “cảnh tượng bi thương” do Hoạn Thư sắp đặt đã hiện ra. Chàng cho rằng Kiều đã chết! Đau khổ, Thúc sinh lại một lần nữa:

Gieo mình vật vã khóc than:

- “Con người thế ấy, thác oan thế này!”

Trước sự đột ngột “thác oan” của Kiều, lòng dạ chàng Thúc đau đớn tột cùng:

Thương càng nghĩ, nghĩ càng đau,

Dễ ai rấp thảm quạt sầu cho khuây.

Nghĩa tình chồng vợ, tấm lòng của Thúc sinh đối với Thúy Kiều như thế khó có ai nói là không đậm sâu!

Trở lại quê lần sau, một tấn bi kịch mà kịch bản do Hoạn Thư soạn ra, khi Thúc sinh biết Kiều đã trở thành “con ở” cho nhà mình, làm cho chàng “ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời”, thêm một lần nữa đầm đìa nước mắt:

Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.

Và khi bữa tiệc tẩy trần diễn ra, lòng Thúc sinh càng thêm tê tái:

Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.

Rồi khi tiếng đàn “bốn dây như khóc như than” của Thúy Kiều gẩy lên, Thúc sinh càng “tan nát lòng”, càng như héo hon hơn! Đêm ấy, Thúy Kiều cũng đau khổ tột cùng, “đĩa dầu vơi, nước mắt đầy, năm canh”!

Ngay cả khi Kiều được Hoạn Thư cho “áo xanh đổi lấy cà sa”, giam hãm ngồi chép kinh ở chùa Quan Âm, có cơ hội vụng trộm gặp lại nàng, Thúc sinh cũng “giọt châu tầm tã”, “ngậm thở ngùi than” với Kiều về sự “thấp cơ thua trí đàn bà” của mình! Rồi chàng khuyên Kiều trốn khỏi nơi “giông tố phũ phàng”, nơi hang hùm nọc rắn này:

Liệu mà xa chạy cao bay

Ái ân ta có ngần này mà thôi!

Đây đúng là một cuộc tình đẫm nước mắt của cả hai người…

Bình luận về tính cách của nhân vật Thúc sinh, nhiều người thường phê phán chàng, nào là người “hời hợt, bạc nhược, yếu đuối”, nào là “Thúc sinh yêu Kiều, nhưng đó là tình yêu của một kẻ lắm tiền, nhiều của, vị kỷ và hưởng lạc”(4), hay “Thúc sinh là một anh chàng hèn nhát”(5)…Trên Nam Phong tạp chí(6) trước đây, Nguyễn Đôn Phục trong bài “Văn chương và nhân vật trong Truyện Thúy Kiều” (NPTC, số 58, tr 302-315) cũng cho rằng: “Chàng Thúc sinh không có thế lực, bao bọc lấy một người ái thiếp mà bất túc”; còn Trực viên Phạm Văn Nghị lại có những dòng thơ vịnh về hình ảnh chàng Thúc sinh như sau:

Cao bay xa chạy còn khuyên hão,

Một án bạc tình chối được chăng?

(NPTC, số 145, tr 625)

Có lẽ khó mà bao biện cho những nhận xét về tính cách chàng Thúc mà người đọc truyện Kiều xưa nay đã lên án chàng. Song, nói cho công bằng, một số ý kiến trên cũng quá nặng lời. Bởi cuộc sống trong xã hội phong kiến vốn trọng kẻ sỹ cũng có con đường riêng của nó. Thúc sinh là một thương nhân, dù giàu có vẫn bị lép vế. Chàng kết duyên với Hoạn Thư, con Thượng thư, dường như là nhằm để nâng cao vị thế của mình. Và chính cuộc hôn nhân này đã làm cho tính cách của chàng trở nên yếu đuối, bất lực, không có quyền uy trong xử lý chuyện vợ chồng… Thêm nữa, Thúc sinh cũng là người có lỗi, vì đã lập lờ, cố tình bưng bít chuyện “thêm hoa”, để rồi chàng và Thúy Kiều phải nhận về những hành vi trừng phạt ghê gớm của người đàn bà quý tộc! Tuy nhiên, điều khả thủ đáng ghi nhận về tính cách của Thúc sinh là ở chỗ, dù trong cảnh ngộ nào thì chàng cũng vẫn là người có một tấm lòng rất mực yêu thương Thúy Kiều, và những giọt nước mắt lâm ly của chàng trong mối tình này cũng đã làm cho hình ảnh của chàng không hẳn là con người quá tệ bạc! Dường như trong sâu thẳm tình cảm của nhà thi sỹ thiên tài Nguyễn Du, về nhân cách, chàng Thúc sinh vẫn là một con người thành thật!

An Hưng thự viên, tháng 9 năm 2017

CHÚ THÍCH

  1. Nguyễn Du, Truyện Kiều, văn bản cơ sở và chú giải Đào Duy Anh, NXB Văn học, Hà Nội, 1979.
  2. Xuân Diệu, “Chung quanh từ ngữ Truyện Kiều”, trong sách “Nguyễn Du, Truyện Kiều, văn bản cơ sở và chú giải Đào Duy Anh”, Sđd, tr 35.
  3. Hoài Thanh, “Nghìn thu vọng mãi”, trong sách “Nguyễn Du, Truyện Kiều, văn bản cơ sở và chú giải Đào Duy Anh”, Sđd, tr 58.
  4. Nguyễn Lộc, “Nghệ thuật điển hình hóa”, trong sách Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều, NXB Giáo dục, 2005, tr 1329.
  5. Hoài Thanh, “Nghìn thu vọng mãi”, trong sách “Nguyễn Du, Truyện Kiều, văn bản cơ sở và chú giải Đào Duy Anh”, Sđd, tr 58.
  6. Nam Phong tạp chí,Văn học-Khoa học-Tạp chí, Đông-kinh ấn quán (Imprimerie-Tonkinoise), từ tháng 7/1917 đến tháng 12/1934.

ĐỊA CHỈ:

PGS.TS NGUYỄN ĐỨC THUẬN

KHOA NGỮ VĂN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

ĐT: 0912402359

Vương Ông có oan hay không trong vụ “thằng bán tơ”?

Cuộc tiễn Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú, mãi đến giữa trưa hôm đó, hai người mới chia tay (Dùng dằng chưa nỡ rời tay / Vầng đông đâu đã đứng ngay nóc nhà”). Khi đã chia tay rồi,“Kiều còn đứng tựa hiên tây /Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ”. Đến khi “Tần ngần dạo gót lầu trang” thì cũng vừa lúc:

Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về

Hàn huyên chưa kịp dãi dề

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.

Như vậy, khi bọn sai nha ập đến, lúc ấy mới chừng quá trưa. Thoạt đầu vào, chúng bắt trói luôn hai cha con Vương ông và Vương Quan rồi tỏa đi khám xét cướp phá:

Già giang một lão một trai

Một dây vô loại buộc hai thâm tình

Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh

Rụng rời khung cửi, tan tành gói may

Đồ tế nhuyễn, của riêng tây

Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.

Chúng ta tạm cho rằng, cuộc khám xét tra tấn xẩy ra trong vòng 2 đến 3 tiếng đồng hồ, thì Thúy Kiều nảy ra ý định bán mình chuộc cha và nàng dõng dạc tuyên bố trước tất cả mọi người: “Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”.

Đặt vấn đề ra như vậy để chúng ta cùng nhau trao đổi một việc chính trong bài viết này là: Trong vụ “thằng bán tơ”, Vương ông có oan hay khồng?” .

alt

I- Vương ông có trong hội buôn bán tơ lụa hay không?

Trước tiên chúng ta cần phải xem xét xem Vương ông có buôn bán tơ lụa hay không? Theo chúng tôi, Vương ông là người có buôn bán tơ lụa, biểu hiện ở 2 bằng chứng sau đây:

1- Vương ông có buôn bán tơ lụa, có quan hệ với thằng bán tơ thì nó mới biết ông để khai tên ông ra.

2- Gia đình Vương ông có 5 nhân khẩu. Nếu chỉ trông vào việc dệt lụa của 3 mẹ con Vương bà +Thúy Kiều + Thúy Vân thì tiền công chỉ đủ cho cả nhà ăn cơm độn ngô khoai mà thôi, vì công sá của người lao động trồng dâu nuôi tằm và dệt gấm lụa là rất rẻ mạt . Với một danh vị “Viên ngoại” có mức sống “thường thương bậc trung” mà trong nhà lại có “Thời trân thức thức sẵn bày”, trong khi đó Vương ông lại không có ruộng phát canh thu tô, không thấy nói có một nguồn thu nào khác, rồi còn phải có tiền cho Vương Quan đi học “Nối nghiệp nho gia”cũng khá tốn kém. Vậy thì lấy ở đâu ra, nếu Vương ông không có việc buôn bán tơ lụa? Ở Trung Hoa thời xưa, việc buôn bán tơ, gấm lụa rất phát đạt, chẳng những trong nước mà còn bán ra rất rộng rãi trên trường quốc tế (con đường tơ lụa về phương tây và nhiều chiếc thuyền đắm chở gấm vóc và đồ sứ trên biển Đông là minh chứng rõ nét nhất cho điều này).

II- Vương ông có oan hay không? Chúng tôi cho rằng không oan!

Bằng chứng:

1/-Với Vương ông:

Khi Thúy Kiều xướng lên ý định: “Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha” trước đông đủ mọi người, Vương ông chắc hẳn cũng có nghe thấy, mặc dầu đang bị treo ngược trên sà nhà, nhưng ông không hề nói gì, cả cho đến khi Chung công nhẩm tính “Tính bài lót đó luồn đây / Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”, rồi đến khi mọi việc đã chính thức được quyết định, Chung công đã yêu cầu Thúy Kiều “quy liệu trong đôi ba ngày”, rồi ông ta quyết định giải cha con Vương ông đi và cho tại ngoại “Hãy về tạm phó giam ngoài”, Vương ông vẫn không hề hé răng. Nếu là oan thật, thì trong hoàn cảnh ấy, ông phải quyết gạt chuyện bán mình của Thúy Kiều đi, và tin rằng mình sẽ được minh oan trong khi xử án.

Sau khi Thúy Kiều đã chính thức ngã giá với Mã Giám Sinh và Mã Giám Sinh ghi canh thiếp hẹn ngày giao tiền, thì gia đình kiều được tạm lĩnh Vương ông về nhà. Lúc này ông mới thấy đau lòng về sự hợp tan và định “gieo đầu tường vôi” tự tử. Sự việc này chứng tỏ, lúc này ông mới thực sự ân hận vì việc làm sai trái trong vụ buôn bán tơ lụa của mình:

Vì ai rụng cải rơi kim

Để con bèo nổi mầy chìm vì ai!

Hai từ “Vì ai” ở đây thực mơ hồ, không hẳn để chỉ thằng bán tơ? Hai từ “vì ai” như đồng nghĩa với chữ “vì ta”vậy!

2- Với Thúy Kiều:

Thúy Kiều là một cô gái rất thông minh, đọc nhiều biết rộng. Có lẽ trong khi bọn sai nha khám nhà và tra tấn cha và em trai, nàng đã dự cảm thấy là cha mình có tội, mà là tội nặng. Nàng lại biết thời ấy bọn quan nha rất hám tiền, chỉ cần có tiền thì “dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì”, Mà muốn có tiền chuộc cha thì chỉ có con đường duy nhất là bán mình mà thôi!

Sau này, tạm lĩnh Vương ông về nhà, Vương ông đã toan “Gieo đầu tường vôi”, nàng đã nêu 2 tấm gương nàng Oanh dâng thư xin chịu tội thay cho cha và ả Lý bán mình chuộc cho mẹ. Vậy sao nàng không theo hai tấm gương ấy, làm đơn kêu lên quan trên hoặc lên vua mà đã vội quyết định bán mình lấy tiền chuộc như thế? Như trên tôi đã nói, vì nàng biết rằng tội của cha là khá nặng lại thêm bọn quan nha thời đó chỉ muốn ăn tiền mà thôi. Nếu chậm chễ, sự việc được đưa ra xử với những hình thức gia hình roi vọt thì rất khó tránh khỏi phải tự xưng ra, tất cha và em phải tù tội thì tan nát gia đình! So với nàng Oanh và ả Lý thì nàng có thừa bản lĩnh, nhưng thời đại khác nhau, sự việc khác nhau thì hành xử cũng không thể cứ bắt chước nhau được!“Phải tùy thế mà ra tay kinh tế” (Nguyễn Công Trứ).

3- Với Vương Quan:

Vương Quan là người ít nói. Nhưng trong việc buôn bán tơ lụa của cha thì chắc chắn Vương Quan hiểu hơn ai hết. Chắc chắn, chàng cũmg có góp một phần nhỏ những khi cha sai đi lấy tơ lụa, hoặc thanh toán tiền...

Điều đáng hỏi ở Vương Quan là: Tại sao việc Chung công chạy án cho Vương ông đã được chi tiền sòng phẳng theo yêu cầu một cục là 300 lạng, vậy mà khi Vương Quan đỗ đạt, được bổ làm quan lại lấy con Chung công làm vợ để «Ơn trả nghĩa đền». Đây là một hành vi khó giải thích mà chỉ Vương quan mới trả lời được mà thôi! Có lẽ Vương Quan tự thấy, nếu không phải là Chung công thành thạo nhiều trong việc chạy án và quen biết nhiều trong giới quan nha, lại rất có thiện cảm với gia đình chàng, nếu mà công việc giao cho người khác thì khó có thể xong được! Chàng biết rõ hơn ai hét trọng tội của cha mình, nên ân sâu ghi tạc.

4-Với Nguyễn Du:

Nguyễn Du là người kể chuyện, ông đã thuật lại trung thực cảnh nhà Vương ông hôm bị khám nhà:

Hỏi ra sau mới biết rằng

Phải tên xưng xuất tại thằng bán tơ

Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ

Tiếng oan dậy đất, oán ngờ lòa mây

Trong hoàn cảnh ấy thì dù ai có tội cũng đều kêu oan là lẽ tất nhiên. Nhưng sau đó Nguyễn Du có một câu bình phẩm rằng:

Trong tay đã sẵn đồng tiền

Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì!

Như vậy, với Nguyễn Du thì việc làm của Vương ông là “đen” và nhờ có đồng tiền bán Kiều mà đã đổi ra thành “trắng”. Vậy thì Nguyễn Du cũng thấy được là Vương ông có tội. Nhưng để cho khách quan ông không tiện nói trắng ra mà thôi!

5- Với đời sau:

Trong bài thơ Vịnh Kiều của Nguyễn Khuyến có hai câu kết:

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ

Đời trước làm quan cũng thế a?

Câu thứ 2, cho ta thấy thời của Nguyễn Khuyến rất nhiều tham quan, cho nên ông ngạc nhiên là thời của Thúy Kiều cũng có quan tham? Thì ra bất cứ thời nào, bọn người làm quan cũng đều tham tiền cả! Chúng tim mọi thủ đoạn đục khoét, cướp bóc của nhân dân! Thụt két của nhà nước!

Câu thứ nhất có hàm ý là Nguyễn Khuyến cũng cho rằng Vương ông có mắc tội trong việc buôn bán tơ, cho nên, ông rất ngạc nhiên là “có tiền việc ấy mà xong nhỉ”. Theo ý nghĩa nội hàm của câu thơ thì Nguyễn Khuyến đã coi việc phạm tội của Vương ông là quá lớn đến thế, mà đồng tiền cũng có thể giải được! Thế mới thấy rõ sức mạnh của đông tiền lớn đến mức nào!

Ngần ấy dẫn chứng, tưởng đã là quá đủ để thấy được: Vương ông có mắc tội thật, thằng bán tơ khai ra ông chẳng hề vu khống chút nào!

Hà Đông ngày 28 tháng 8 năm 2017

Hoài Yên

0988 895 738

Ngôi nhà của một Doanh nhân trong Truyện Kiều

KTS, Nhà thơ Minh Trí
(Phó VP Đại diện Hội Kiều học Việt Nam tại Hải Phòn
g)

Bài viết tham gia Hội thảo: “Doanh nhân với Truyện Kiều và Truyện Kiều với Doanh nhân” do Hội Kiều học Việt Nam và Tổng Công ty Hanvico đồng tổ chức.

alt

Truyện Kiều của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du- danh nhân văn hóa thế giới dài 3254 câu. Trong đó tôi thấy thú vị với 10 câu, từ câu 275 đến câu 284 tả về ngôi nhà của một doanh nhân như sau:

275.Là nhà Ngô Việt thương gia,

Buồng không để đó người xa chưa về.

Lấy điều du học hỏi thuê,

Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang,

Có cây, có đá sẵn sàng,

Có hiên Lãm Thúy, nét vàng chưa phai.

Mừng thầm chốn ấy chữ bài:

“Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây!”,

Song hồ nửa khép cánh mây,

284.Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.

Ngô Việt là một doanh nhân thời bấy giờ, thường phải đi buôn bán xa nhà, kinh doanh ở nước Ngô, ở nước Việt; Cũng như các doanh nhân bây giờ vậy. Một doanh nhân thành đạt thường có ít nhất 3 ngôi nhà: Một ngôi nhà xây làm văn phòng công ty; một ngôi nhà xây để ở; và một ngôi nhà xây dành để nghỉ ngơi thư giãn cuốn tuần. Với công thức vui là: 1, 2, 3, 4, 5, 6; Tức là: 1 vợ, 2 con, 3 nhà, ôtô 4 bánh, đi 5 châu bốn biển và kết thúc là vào 6 tấm.

Chính vì thế ngôi nhà của doanh nhân Ngô Việt trong Truyện Kiều xây xong rất đẹp kia ở ngay cạnh nhà Vương Thúy Kiều, nhưng chưa có người ở:

Là nhà Ngô Việt thương gia,

Buồng không để đó người xa chưa về.

Và đây chính là cơ hội tuyệt vời cho Kim Trọng với cái cớ là đang du học tìm đến thuê nhà của doanh nhân Ngô Việt về ở:

Lấy điều du học hỏi thuê,

Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang,

Ngôi nhà của doanh nhân Ngô Việt trong Truyện Kiều được Nguyễn Du tả rất đẹp và có nhiều nét phong thủy độc đáo:

Có cây, có đá sẵn sàng,

Có hiên Lãm Thúy, nét vàng chưa phai.

Đây là một ngôi nhà được thiết kế theo phong cách “nhà vườn” có cây, có đá non bộ, hòn giả sơn. Đặc biệt có “hiên Lãm Thúy” cực kỳ tinh tế là nơi để xem cây xanh, cây cảnh, cây thế và còn rất mới vì “nét vàng chưa phai”. Ngôi nhà này còn có vị trí phong thủy đắc địa và một chút như “nhân duyên- tiền định”; khiến cho Kim Trọng khi nhìn thấy hai chữ “Lãm Thúy” thì cho rằng đây chính là nơi để chàng trông đợi Thúy Kiều. Vì thế Kim Trọng đã thốt lên rằng:

Mừng thầm chốn ấy chữ bài:

“Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây!”,

Ngôi nhà của doanh nhân Ngô Việt đó, âu phải chăng là được thiết kế, xây dựng không chỉ dành cho chủ nhân của nó là một thương gia, doanh nhân giỏi xuôi ngược buôn bán khắp nơi, lâu lâu mới về nhà nghỉ ngơi thư giãn, tái tạo sức lao động. Mà ngôi nhà đó sau khi xây xong đã làm được một việc mà chính nó không ngờ tới: Xe duyên cho một mối tình văn học nổi tiếng thế giới giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, chính bởi sự thiết kế kiến trúc ngẫu nhiên đó:

Song hồ nửa khép cánh mây,

Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.

“Song hồ” là cửa sổ dán giấy, bây giờ trong kiến trúc Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam và một số nơi trong thiết kế nội thất vẫn đang sử dụng. Nửa khép nửa mở là ý Kim Trọng luôn trong trạng thái ngóng đợi Thúy Kiều. Và “cánh mây” tức là cửa “phòng mây”, “phòng mây” là tên nhà ở của các nhà tu hành. Và Kim Trọng ví phòng ở của mình với phòng ở của các nhà tu hành, điều đó chứng tỏ: Chất “sĩ” trong con người Kim Trọng rất lớn. Và trong tâm thức, tình yêu Kim Trọng dành cho Thúy Kiều có gì đó rất thiêng liêng, cao cả, không nhuốm mùi dung tục. Và theo thiết kế kiến trúc nội thất trong ngôi nhà của doanh nhân Ngô Việt, hàng ngày Kim Trọng vẫn: “Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông”. Để rồi có một thiên tình sử độc đáo nhưng cũng đầy thương yêu, đầy oan trái, đầy nước mắt giữa Thúy Kiều vả Kim Trọng.

Câu chuyện ở đây là sự tác động của doanh nhân Ngô Việt vì phải đi làm ăn xa, lại có kinh tế đầu tư xây nhiều nhà; Cũng tương tự như các doanh nhân giỏi thời nay vậy. Chính vì thế doanh nhân Ngô Việt mới có một ngôi “nhà vườn” kiến trúc đẹp, nhưng không có người ở, lại tọa lạc ngay cạnh nhà Vương Thúy Kiều; ngẫu nhiên dành cho Kim Trọng tìm đến thuê. Và sự tình cờ ấy, tác động ấy; chính là một trong những mối nhân duyên trong muôn vàn mối nhân duyên khác giữa “Doanh nhân với Truyện Kiều và Truyện Kiều với Doanh nhân”.

Hải Phòng mùa Vu Lan 2017

MT

Nhớ cụ Nguyễn Du- Vân Anh (Nghệ An)

alt

Vân Anh

(Nghệ An)

NHỚ CỤ NGUYỄN DU

Ngày xuân... Ngưng Bích trống trênh

Chiều hôm cửa bể lênh đênh phận Kiều

Nhớ ai ...duềnh ngọn thủy triều

Phải chăng lành ít , dữ nhiều...mai xa ?

Buồn trông... trôi lạc phận hoa

Thuyền duyên vô định đâu là bến yên ?

Chữ " đồng " tạc vẫn còn nguyên

Trà my rã cánh giữa miền ...đa đoan ?

Kiếp này nợ đấng sinh thành

Tu bao kiếp nữa vẹn toàn hiếu nhân ?

Thương Kiều hay Cụ thương thân

Phong trần rồi lại phong trần ...chẳng vơi ?

Vu oan , buộc tội bao người

Xảo nguyên mưu cũ , mới tươi bây giờ ?

Sở Khanh lột xác ...nhởn nhơ

Bẫy tình cài đặt bất ngờ chốn yêu.

Quan tham ra giá dễ chiều

Còn quan xử kiện cho Kiều... trớ trêu

Trong tay luật pháp như diều

Tội cao , tội thấp , ghét yêu tùy người

" Trăm năm trong cõi "...khóc cười

Tiếng thơm đem đổi , đắp bồi quyền danh.

Ngày xuân... Nhớ Cụ , mơ lành

Gươm thiêng Từ Hải tung hoành nghĩa nhân

Phiên tòa mở giữa lòng dân

Gian tham tận diệt , giả chân rõ ràng.

Hai lăm thập kỷ.... thăng trầm

Xin dâng lên Cụ ...tri âm đôi lời !

V.A


Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai- Vương Trọng

Với đông đảo bạn đọc, nói đến Hoạn Thư là nói đến máu ghen, và có người cũng chỉ biết Hoạn Thư ở chuyện ghen mà thôi, chứ ít quan tâm đến những đức tình khác của người “đàn bà dễ có mấy tay” này.Vì bênh vực Thúy Kiều nên ta ghét Hoạn Thư, cũng là điều dế hiểu, thế nhưng Họan Thư “ lòng riêng riêng những kính yêu” nàng Kiều và chính Thúy Kiều cũng nhận ra Hoạn Thư “biết người, biết của”. Thế thì thực chất Hoạn Thư là người thế nào, ta thử xét xem.

alt

Xuất thân từ một gia đình quan lại, bố là Thượng thư bộ Lại, bộ đứng đầu của trăm chức quan, nhà cửa thì “tòa rộng dãy dài”, có nhiều hoành phi câu đối sơn son thếp vàng. Với những gia đình như thế, con cái thường được giáo dục cẩn thận, được học hành tử tế. Do “duyên đằng thuận nẻo gió đưa”, Hoạn Thư kết hôn với Thúc Sinh “cũng nòi thư hương”, chàng theo ông bố làm nghề kinh doanh mãi tận Lâm Tri để du học, cách nhà cả tháng trời theo đường bộ. Thế là Hoạn Thư phải xa chồng, một mình ở nhà với bọn hầu gái, thi thoảng mới ghé về thăm mẹ, tức Hoạn bà, vợ ông Thượng thư bộ Lại.
Theo lẽ thường, mọi người vợ nghe tin chồng ở nơi xa tằng tịu với một người đàn bà nào đó, thì máu ghen đã sôi lên, huống như nghe tin chồng lấy một cô gái lầu thanh làm vợ thiếp. Người vợ bình thường đã đau, Hoạn Thư càng đau hơn vì nàng là con quan thượng thư, luôn được mọi người trọng vọng và không một ai dám làm trái ý mình bao giờ. Và đối với Thúc Sinh nên duyên là do duyên số đưa hai người đến với nhau… thì cái chuyện tày trời do Thúc Sinh gây ra thật quá sức tưởng tượng. Thử hỏi, với một người đàn bà khác đứng vào vị trí của Hoạn Thư thì sao? Thì sẽ cùng gia nhân lao ngay đến Lâm Tri, bắt Thúy Kiều, “cạo đầu bôi vôi”, không xé tan quần áo Thúc Sinh thì cũng bù lu bù loa, để cho “bàn dân thiên hạ” biết được tội lỗi không thể tha thứ của Thúc Sinh. Nhưng Hoạn Thư thì sao? Mặc dù cái tin khủng khiếp ấy làm nàng sôi máu lên, không ghìm nổi, “lửa tâm càng dập càng nồng”, buộc nàng phải có hành động, nhưng nàng tự dặn mình rằng: “ Dại chi chẳng giữ lấy nền / Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình”! Những người thiếu văn hóa thường lấy gia thế của mình làm chỗ dựa cho những hành động có lúc thái quá của mình, nhưng với người có văn hóa, không bao giờ muốn những hành động của mình ảnh hưởng đến gia thế, đến nếp nhà. Hoạn Thư quyết “giữ lấy nền”, giữ lấy gia phong của mình và coi chuyện ghen tuông là chẳng hay ho gì. Mặc dù “ngứa ghẻ, hờn ghen” là thứ không chịu nổi, nhưng là người có văn hóa, Hoạn Thư không bao giờ muốn làm ảnh hưởng đến thanh danh của chồng, mặc dù Thúc Sinh có rất nhiều tội, ngoài việc cưới một cô gái lầu xanh, “lại còn bưng bít giấu quanh”, như đổ thêm dầu vào ngọn “lửa tâm” của nàng.
Phải nói rằng Hoạn Thư là người trầm tĩnh, ý nghĩ sâu xa và quyết làm cho được những điều mình dự kiến. Khổ cho hai kẻ tôi tớ khi nghe tin Thúc Sinh có vợ thiếp ở Lâm Tri thì báo tin cho bà chủ để tâng công, không ngờ “đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng”, một mặt là giữ thể diện cho chồng trươc bọn gia nhân, đồng thời không ảnh hưởng đến “mưu cao vốn đã rấp ranh những ngày” của nàng.
Là một người có văn hóa, nên cách đánh ghen của Hoạn Thư là cách đánh ghen của người có văn hóa. Như trên đã nói, nàng đánh ghen, nhưng không hề làm tổn hại đến thanh danh của chồng. Còn đối với Thúy Kiều, nàng không hề dùng đến bạo lực, không hề dùng một lời lẽ xúc phạm nào. Có người đọc Truyện Kiều không kỹ, tưởng rằng Hoạn Thư đã từng cho gia nhân đánh đập nàng Kiều, sự thật không phải như thế. Ta nhớ rằng khi bọn Khuyển Ưng bắt Kiều từ Lâm Tri về thì đưa nàng đến nhà mẹ của Hoạn Thư, và người sai quân đánh đập Thúy Kiều là Hoạn bà, lúc ấy không hể có mặt Hoạn Thư ở đó, mà mấy ngày sau, làm như vô tình về thăm nhà mẹ đẻ, Hoạn Thư gặp Thúy Kiều và xin mẹ đưa người này về nhà mình. Hoạn Thư là người biết người, biết của nên khi tiếp xúc với Thúy Kiều thì nhận ra đây là một người có tài, nên giảm bớt khoảng cách giữa bà chủ và người hầu, “khuôn uy dường cũng bới vài bốn phân”. Trong Truyện Kiều, Hoạn Thư là người khen Thúy Kiều nhiều nhất, tất cả bốn lần từ khi mới đưa Thúy Kiều từ nhà mẹ về đến nhà mình, cho đến lần cuối gặp nhau ở Quan Âm Các. Khen đánh đàn hay, khen viêt tờ trình giỏi, và khen viết chữ đẹp hơn cả “nàng Ban, ả Tạ”… Số lần khen đã nhiều, và chất lượng lời khen thi không ai sánh kịp: “Số này đáng đúc nhà vàng cũng nên”, nghĩa con người tài như Thúy Kiều, thì nên “đúc nhà vàng” mà ở mới xứng! Thế thì sao Hoạn Thư còn hành hạ Thúy Kiều? Điều này chính Hoạn Thư đã giải thích: “ Chồng chung chữ dễ ai chiều cho ai”. Nhưng cách hành hạ của Hoạn Thư là hành hạ về mặt tinh thần, là bắt đánh đàn hầu hai vợ chồng nàng. Tôi tin rằng chính Hoạn Thư đã nhận ra Thúy Kiều là một người có văn hóa, nên mới hành hạ thế này, mà không hành hạ về thể xác. Vì Thúy Kiều có văn hóa mới nhận ra cái trớ trêu, cái đau, cái nhục…khi đánh đàn hầu Thúc Sinh với Hoạn Thư hơn mọi sự hành hạ khác. Mục đích của Hoạn Thư không phải là muốn triệt đường sinh sống của Thúy Kiều, mà làm cho nhục, làm cho tự Thúy Kiều phải biết mà xa Thúc Sinh ra và việc bố trí cho Kiều ra “coi chùa, chép kinh” ở Quan Âm Các là bước đi đầu tiên. Chúng ta lưu ý điều này: Hoạn Thư không ra lệnh, hoặc hành động bắt Thúy Kiều phải xa Thúc Sinh, mà Hoạn Thư phải tìm cách làm cho Thúy Kiều phải tự nghĩ và quyết định xa Thúc Sinh. Và cái cách làm của Hoạn Thư cũng không hề bạo lực, không hề trách móc hay mắng chửi. Đó là khi Kiều đã ra ở Quan Âm Các, một hôm, Hoạn Thư bảo về thăm mẹ, thế là Thúc Sinh “tranh thủ thời gian” lẻn ra thở than, kể lể, có cả chuyện kể tội Hoạn Thư với Thúy Kiều. Nhưng Hoạn Thư không về thăm mẹ, mà ra rình nghe suốt cả nửa giờ, rồi mới xuất hiện trước mặt hai người, không hề tức giận, mà chỉ “cười cười nói nói ngọt ngào”, để cho Thúy Kiều nhận ra “cười này mới thực khôn lường hiểm sâu” và phải tự quyết định lấy cắp khánh ngọc, nửa đêm trèo tường trốn đi. Hoạn Thư chỉ muốn cho Thúy Kiều tự bỏ đi, thế là thỏa mãn, chứ không muốn cho quân đuổi theo để bắt Kiều về, mặc dù đoạn đường từ Quan Âm Các đến Chiêu Ẩn Am, Thúy Kiều chỉ đi bộ từ nửa đêm đến mờ sáng, xa lắm cũng chỉ vài chục cây số, chẳng thấm tháp gì so với quãng đường từ Vô Tích đến Lâm Tri mà tay chân của Hoạn Thư từng đi bắt Kiều về. Một điều nữa đáng nói là Hoạn Thư còn muốn tạo cho chuyến trốn chạy của Kiều thuận lợi, nên không tiếc số chuông vàng, khánh bạc mà Kiều đã lấy cắp, chắc là coi đó là thứ để Kiều chi tiêu trong quá trình trốn chạy. Hoạn Thư tin Kiều là người thông minh nên biết được nhã ý của mình, nên khi tự bào chữa cho mình trong phiên tòa báo ân báo oán, Hoạn Thư đã nhắc lại điều này:
Nghĩ cho khi các viết kinh
Đến khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo
Chắc chắn khi lấy cắp chuông vàng khánh ngọc nửa đêm trốn đi mà không thấy gia nhân của Hoạn Thư đuổi theo, Thúy Kiều đã biết được rằng chính Hoạn Thư mở đừng sống cho mình, với duy nhất một điều kiện là hãy xa Thúc Sinh.. Bởi vạy, khi nghe Hoạn Thư nhắc lại điều này, là chạm tới mối cảm tình lớn nhất của Thúy Kiều đối với Hoạn Thư, nên : “Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”. Trong Kim Vân Kiều Truyện, thì Hoạn Thư bị đánh tơi bời trước khi được tha, còn trong Truyện Kiều, thì không ai động chạm tới thân thể của Hoạn Thư, cũng như Hoạn Thư chưa từng đụng chạm đến thân thể Thúy Kiều.
Tôi nghĩ rằng, nếu Hoạn Thư và Thúy Kiều không gặp nhau vì một anh chàng Thúc Sinh đa tình nhưng bạc nhược, mà tương ngộ trong những hoàn cảnh khác, thì tôi tin họ sẽ là một đôi bạn tri kỷ, vì cả hai đều có giáo dục, có tài và có văn hóa, sâu sắc và tế nhị. Bi kịch xẩy ra giữa hai người đàn bà này trăm sự chỉ vì “chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”!

Vương Trọng

Mối tình Kiều- Kim trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

PGS.TS.Nguyễn Đức Thuận

alt

Truyện Kiều (nguyên tên khai sinh Đoạn trường tân thanh) là kiệt tác văn học của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Nhân vật trung tâm trong tác phẩm này là nàng Vương Thúy Kiều, một thiếu nữ tuyệt vời tài sắc, thông minh và hiếu nghĩa. Nhưng cuộc đời nàng lại “là một chuỗi dài những bi kịch kế tiếp nhau”(1), trong suốt mười lăm năm của cuộc “đoạn trường”. Đến với Truyện Kiều, bao thế hệ người đọc không chỉ cảm thương cho cuộc đời “dâu bể” của nàng, cũng là cuộc đời chung của biết bao “phận đàn bà…bạc mệnh” trong xã hội phong kiến bạo tàn xưa, mà còn đầy cảm phục, mến yêu tâm hồn và nhân cách cao đẹp của nàng. Trong bóng đêm tối tăm của xã hội Truyện Kiều, với bọn sai nha “đầu trâu mặt ngựa”, bọn buôn thịt bán người xảo trá, đê tiện, những tên quan “mặt sắt đen sì” bất nhân, và đồng tiền chà đạp lên tất cả, vẫn sáng lên một mối tình cao đẹp, đầy ý nghĩa lãng mạn, mối tình Kiều - Kim.

Tác phẩm Truyện Kiều có 3.254 câu thơ lục bát, theo Xuân Diệu, tác giả Nguyễn Du đã dành đến một phần tám tác phẩm này mà xây dựng nên mối tình Kiều - Kim, “cố đem tài mình mà tả tình yêu của hai người ấy”(2), để rồi mỗi khi gấp trang sách lại, bao buồn vui, bao xót xa, thương cảm cứ đầy vơi trong lòng người đọc... Trong kho tàng truyện Nôm của nước ta, cả truyện Nôm văn nhân hay truyện Nôm bình dân, chưa có một mối tình của đôi “tài tử - giai nhân” nào mà để lại nhiều rung cảm đậm sâu như thế!

1. Mối tình Kiều – Kim, trước hết là một mối tình đắm say! Ngày thanh minh trong tiết trời xuân đẹp, Kiều – Kim đã gặp nhau. Trái tim người thiếu nữ xinh đẹp, tài hoa, thông minh và trong trắng đã xao động trước dáng vẻ phong nhã, hào hoa của chàng thư sinh tài danh văn chương trác tuyệt. Và khi người khách đã lên ngựa, đôi mắt Kiều nhi “còn nghé theo” trong không gian “tơ liễu bóng chiều thướt tha”, báo hiệu tình yêu của họ đã “nảy mầm”. Thế rồi, đêm hôm đó, những con sóng của ái tình đã nổi lên, “ngổn ngang trăm mối bên lòng” nàng:

Người đâu gặp gỡ làm chi?

Trăm năm biết có duyên gì hay không?

Chàng Kim, cái “người đâu” mới “gặp gỡ làm chi” trong buổi chiều thanh minh ấy bỗng đã trở thành một “ý trung nhân”, để lại tình cảm bâng khuâng nơi tâm hồn và trong ước muốn tình “duyên” của Kiều. Còn chàng Kim khi “trở lại thư song” thì cũng “nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây”, để cho:

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.

Nỗi niềm tương tư “mặt mơ tưởng mặt” ngập tràn cả trong giấc chiêm bao, trong mùi hương và chén trà nơi phòng văn của chàng Kim. Chàng trai ấy cũng thật đa tình. Chàng không thể kìm nén nổi lòng mình. “Nhớ cảnh nhớ người”, Kim Trọng trở lại nơi gặp gỡ “kỳ ngộ” hôm xưa, nhưng nào đâu có bóng hồng! Chỉ thấy: “Một vùng cỏ mọc xanh rì/ Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu”... Chàng quyết định tìm đến nhà Kiều, “xăm xăm đè nẻo Lam kiều lần sang”, hy vọng được trông thấy nàng! Yêu nhau mà không được nhìn mặt nhau thì “một ngày tưởng dài như ba thu vậy”. Nhưng, thật trớ trêu, nhà nàng “thâm nghiêm kín cổng cao tường”:

Mấy lần cửa đóng then cài,

Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu.

Trong tình yêu, trái tim trai gái muôn đời nay đều mách bảo họ biết phải làm gì khi yêu. Kim Trọng thật khôn ngoan “lấy điều du học hỏi thuê” căn nhà thương gia bỏ không để được gần bên nhà Kiều. Thế rồi, điều gì đến thì sẽ đến! Hai người đã gặp nhau trong cảnh ngộ Kiều để vương chiếc kim thoa trên cành cây. Cho dù lúc đầu Kiều có nói lời “khước từ” theo lối đưa đẩy với chàng Kim: “Dù khi lá thắm chỉ hồng / Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha”, thì sự thật trái tim của nàng cũng đã đầy ắp tình yêu ngay từ ngày thanh minh mới gặp chàng. Và nàng đã nhận lời đính ước với chàng Kim mà không chờ đến ý kiến của mẹ cha như nàng đã nói:

Đã lòng quân tử đa mang

Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung!

Kim Trọng đúng là người yêu lý tưởng trong trái tim nàng. Tuổi trẻ là tuổi của mộng mơ. Thời xưa, mẫu người trai văn nhân “Thanh lạ thường… Lưng cao dài trán rộng / Hỏi ai nhìn không thương?”(3) đã là một mẫu người để biết bao cô gái mơ tưởng. Thế nên, tình yêu của Kiều dành cho chàng Kim là thứ tình yêu cảm mến, sáng trong, tinh khiết.

2. Mối tình Kiều – Kim còn là một mối tình táo bạo và hồn nhiên, vượt lên trên khuôn khổ của lễ giáo phong kiến, như tình yêu mạnh mẽ, quyết liệt của chàng Rômêô và nàng Juliet trong vở bi kịch cùng tên của văn hào Anh Uyliam Sêcxpia vậy.

Sau ngày đính ước, chớp lấy “cơ hội” khi cả nhà đi vắng, Kiều đã sang nhà chàng Kim hai lần, buổi chiều và ban đêm để gặp chàng. Bàn chân nàng “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”, thật mãnh liệt, chúng như có “ma lực” của ái tình lôi cuốn, chủ động và tự tin, nàng đã đi, đi theo tiếng gọi của con tim đắm say tình yêu! Không thể có bất kỳ sợi dây nào của lễ giáo phong kiến có thể trói buộc được bước chân của nàng! Nàng tự biết rằng “khoảng vắng đêm trường” là một không gian và thời gian rất “nhạy cảm”, nhưng không phải vì thế mà e dè không đến với nhau. Thế nên, ngay khi gặp chàng, Kiều đã nói với Kim Trọng:

Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.

Nàng lo sợ, biết đâu có một ngày nào đó, câu chuyện ái tình của hai người đêm nay chỉ như một giấc chiêm bao… Và trong đêm ấy, Kiều – Kim đã thề nguyền “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”, có “vầng trăng vằng vặc” trên trời cao chứng giám, có hương trầm ngào ngạt tỏa thơm và có tiếng đàn tuyệt vời của Kiều ngân rung, làm cho kỷ niệm của buổi thề nguyền càng thêm thiêng liêng và tha thiết! Nhà phê bình văn học Hoài Thanh cho rằng: “Gót chân nàng “thoăn thoắt” đi sang nhà Kim Trọng, cái hình ảnh nàng “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” bây giờ đây vẫn còn có thể làm cho một số người ngơ ngác, phân vân”(4)… và quả thật, nó đã “làm phiền” cho trật tự xã hội phong kiến ấy nhiều lắm!

Đúng như nàng đã cảm nhận, mối tình của Kiều – Kim mới chớm nụ, chưa kịp đơm hoa thì giông bão ập tới. Kiều phải bán mình để cứu cha và em. Đêm trao duyên cho Thúy Vân, bên “ngọn đèn khuya”, nàng xót xa thương chàng Kim mai ngày khi trở lại vườn Thúy nơi này thì tình xưa đã lìa tan:

Công trình kể biết mấy mươi,

Vì ta khăng khít cho người dở dang.

Để rồi, nàng nức nở, vật vã khóc than:

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

Mối tình đầu đẹp đẽ và đầy mộng mơ giữa Kiều và Kim sẽ còn đọng lại mãi mãi trong trái tim nàng, “mai sau dù có bao giờ”, không thể nhạt phai.

Năm tháng thời gian có thể trôi qua, nhưng mùi hương của mối tình đầu đẹp đẽ ấy vẫn cứ mãi thơm ngát trong tâm hồn Kiều, nó sẽ theo đi suốt cuộc đời nàng, trở thành tình yêu trường cửu, vĩnh hằng!

3. Thêm nữa, mối tình Kiều – Kim còn là một mối tình trong trắng, trinh nguyên. Trong suốt chiều dài tác phẩm, mối tình Kiều – Kim không hề vẩn đục bởi màu sắc nhục dục. Cái đêm Thúy Kiều táo bạo sang nhà Kim Trọng tự tình, trước gương mặt mỹ nhân và trong tiếng đàn huyền diệu, lại trong một hoàn cảnh nhạy cảm, con “sóng tình” trong lòng Kim Trọng trào dâng, “xem trong âu yếm có chiều lả lơi”. Mặc dù rất yêu chàng, nhưng Kiều đã không để cho tình yêu lấn át đạo lý, cương thường. Nàng đã khéo chối từ và không ngã vào tay chàng Kim:

Đã cho vào bậc bố kinh,

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu.

Cô gái trẻ ấy đã giữ gìn sự trinh trắng của tâm hồn và thể xác, bởi nàng biết trân trọng sự thiêng liêng của tình yêu, của hạnh phúc mai sau:

Phải điều ăn sổi ở thì

Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày.

Nàng sang nhà Kim đêm ấy là để trao cho chàng tình yêu, còn chuyện trao thân chưa phải lúc. Nàng nói với chàng Kim, như để “vỗ về” chàng:

Vội chi liễu ép hoa nài,

Còn thân ắt cũng đền bồi có khi.

Nhưng rồi điều đó sẽ mãi mãi không bao giờ xảy ra trong cuộc đời của cả hai người, kể cả sau này Kiều – Kim có ngày đoàn viên sau mười lăm năm xa cách. Đã có một lần, biết phải thất thân với Mã Giám sinh, nhớ đến chàng Kim, Kiều cảm thấy ân hận và luyến tiếc:

Biết thân đến bước lạc loài

Nhị đào thà bẻ cho người tình chung!

Sau này, khi gặp lại chàng Kim, nàng không muốn đem tấm thân đã vẩn nhiều cát bụi của trần thế mà dâng lên mối tình trong trắng ngày xưa:

Người yêu ta xấu với người,

Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau!

Đêm “động phòng”, nàng khuyên Kim Trọng đừng nên “vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa”, “hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi”, để cho mối tình ấy mãi mãi trắng trong và thiêng liêng, bất vong bất diệt… Tam Hợp đạo cô đã nhận xét đúng về mối tình của nàng:

Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm.

4. Sau cùng, mối tình Kiều – Kim là một mối tình thủy chung vô hạn.

Ngay sau khi đính ước, thề nguyền, gặp cảnh tai biến, lúc chia tay để chàng Kim về quê chịu tang chú, Kiều đã nói với chàng Kim tấm lòng son sắt, thủy chung của mình:

Cùng nhau trót đã nặng lời,

Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ.

Và:

Đã nguyền hai chữ đồng tâm,

Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.

Lời thề nguyền ấy là thiêng liêng và nó đã đi theo suốt cuộc đời nàng Kiều.

Khi ở lầu Ngưng Bích, tấn bi kịch bị lừa gạt, bị sỉ nhục đang còn đè nặng lên trái tim Kiều, nhưng nàng vẫn không nguôi nhớ về chàng Kim:

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?

Và những ngày đau đớn tủi nhục ở lầu xanh, nàng cũng không quên được hình bóng của chàng:

Tình sâu mong trả nghĩa dày,

Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?

Ngay cả khi Kiều đã là vợ Thúc Sinh, trong tâm trạng cô đơn, ngóng chờ Thúc Sinh đang về nhà xin phép Hoạn Thư chấp thuận cho nàng được làm vợ lẽ, Kiều vẫn thầm nhớ đến lời thề nguyền chung thủy với chàng Kim năm xưa:

Tóc thề đã chấm ngang vai

Nào lời non nước, nào lời sắt son?

Trong suốt mười lăm năm lưu lạc, Kiều phải lấy Thúc Sinh, Bạc Hạnh và cả Từ Hải nữa, là những cuộc hôn nhân đầy tính toán mưu mô và cưỡng đoạt, thì cái sợi tơ tình yêu và lời thề thủy chung với chàng Kim xưa vẫn không đứt trong sâu thẳm tâm hồn nàng:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.

Về phía chàng Kim, xã hội phong kiến xưa không đòi hỏi người đàn ông phải thủy chung với một người đàn bà, nhưng chàng cũng là một người tình chung thủy. Kim Trọng quyết ra đi tìm nàng, mặc dù biết chuyện này như là chuyện “đáy bể mò kim” vậy. Hiếm có một mối tình nào mà sau thời gian dài mười mấy năm trời xa cách, với bao đau đớn và tủi nhục mà tấm lòng thủy chung của đôi lứa Kiều - Kim vẫn bền vững như xưa.

Có thể nghĩ rằng, mai sau, văn học sẽ có thể sáng tạo ra những câu chuyện tình khác nữa, nhưng mối tình Kiều – Kim trong tác phẩm Truyện Kiều của thiên tài Nguyễn Du vẫn là một thiên tình sử đẹp nhất. Mối tình này chứa đựng ở đó chất thơ mộng, táo bạo mà sáng trong như gương như ngọc và muôn năm chung thủy. Nó không vẩn đục bởi sắc màu vật chất hay nhục thể. Nó vững bền qua thời gian và cuộc sống đầy bão tố đớn đau…

Đó là điều đã làm nên sức hút diệu kỳ, mà đã bao nhiêu năm tháng trôi qua, mối tình ấy vẫn như ánh sáng lung linh tạo nên vẻ đẹp nhân văn trong tác phẩm Truyện Kiều.

NĐT

Chú thích:

  1. Hoài Thanh, Tuyển tập, tập II, “Nguyễn Du, một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”, VH, HN, tr 99.
  2. Xuân Diệu, Ba thi hào dân tộc, “Bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều”, Nxb Thanh niên, 2001, tr. 285.
  3. Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, trích Nguyễn Nhược Pháp, “Chùa Hương”, VH, HN, 1988, tr.282.
  4. Hoài Thanh, Tuyển tập, tập II, “Nguyễn Du, một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”, Sđd. tr 98.

Chuyện về Nguyễn Du và Truyện Kiều - Việc của người trong cuộc

Được phép của giáo sư (GS) Mai Quốc Liên, xin được cảo thơm lần giở tập tư liệu hồi ức của GS Nguyễn Văn Hoàn.

…Cuối năm 1959, Viện Văn học thuộc Ủy ban Khoa học nhà nước bắt đầu tập trung cán bộ để chuẩn bị thành lập và đi vào hoạt động. Tôi đang làm cán bộ giảng dạy của Khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội liền trở thành cộng tác viên của Nhóm Truyện Kiều thuộc một tổ nghiên cứu của viện có cái tên gọi tắt ngộ nghĩnh Cổ - Cận - Dân (Cổ đại, Cận đại, Dân gian).

Sau đó Viện Văn học có dự kiến sẽ đề nghị kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du vào năm 1965 nên từ đầu năm 1962 tôi được điều về làm cán bộ nghiên cứu của Tổ Cổ - Cận, mới tách ra từ tổ nói trên, do nhà văn Trần Thanh Mại làm tổ trưởng. Công việc đầu tiên của chúng tôi là dự thảo kế hoạch kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

Ngày 2/2/1962, Viện Văn học mở Hội nghị, mời đại diện các ngành liên quan và các nhà văn, nhà nghiên cứu đến góp ý kiến cho bản dự thảo kế hoạch. Đến dự có khoảng 70 người, trong đó có các ông Nguyễn Khánh Toàn, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Ca Văn Thỉnh, Minh Tranh (Ủy ban Khoa học nhà nước), Nguyễn Xuân Trâm (Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam), các nhà nghiên cứu Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách, nhà thơ Xuân Diệu, các GS Hoàng Xuân Nhị, Nguyễn Lương Ngọc, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn (Đại học Hà Nội) v.v...

Sau lời tuyên bố lý do của ông Hoài Thanh, Phó viện trưởng Viện Văn học, ông Nguyễn Khánh Toàn, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước, đã khai mạc hội nghị.

Ông nói: “Việc kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du là một sự kiện lớn trong sinh hoạt văn học của nước ta đồng thời có ý nghĩa chính trị và tầm quan trọng quốc tế. Một kiệt tác là thành tích của một cá nhân, một thiên tài, nhưng đồng thời thể hiện bản lĩnh sáng tạo của một dân tộc. Kỷ niệm Nguyễn Du là một dịp khiến ta hiểu ta hơn, từ đó đề cao tinh thần tự hào dân tộc và từ thực tiễn quá khứ rút ra bài học để tiến lên. Kinh nghiệm Liên Xô: Kỷ niệm 100 năm Puskin đã tạo được một bước phát triển mới cho nghiên cứu văn học, sân khấu, điện ảnh... Vấn đề Nguyễn Du và Truyện Kiều có ý nghĩa quốc tế của nó. Khi thực dân Pháp mới chiếm nước ta, Truyện Kiều là một trong những tác phẩm đầu tiên được dịch và nghiên cứu, đến nay không riêng gì ở Pháp mà ở Liên Xô và nhiều nước khác trên thế giới đều có dịch và nghiên cứu Truyện Kiều. Mấy năm nay Hội đồng Hòa bình thế giới có sáng kiến kỷ niệm danh nhân văn hóa các nước nhưng ta chưa có danh nhân tiêu biểu nào chẵn năm, lần này chúng ta sẽ giới thiệu Nguyễn Du ra thế giới kỷ niệm. Từ nay đến 1965 chúng ta còn 3 năm chuẩn bị,

Thời gian còn lại không nhiều. Viện Văn học sẽ là đơn vị chủ chốt nhưng cần có sự phối hợp với các cơ quan khác, cần có một kế hoạch, một tổ chức, cần lập ngay Ban trù bị kỷ niệm để theo dõi, phối hợp việc thực hiện, kể cả việc phối hợp với các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài”.

Tiếp đó ông Trần Thanh Mại, thay mặt Viện Văn học trình bày kế hoạch dự kiến và hội nghị thảo luận rất hào hứng.

Chuyện về Nguyễn Du và Truyện Kiều - Kỳ IV: Việc của người trong cuộc ảnh 1

Sau cuộc họp, Viện Văn học đã thành lập Ban trù bị kỷ niệm Nguyễn Du và làm tờ trình gửi lên Ban Bí thư, Ban Tuyên huấn Trung ương và đến tận từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, đồng thời gửi lên Ủy ban Khoa học nhà nước, Bộ Văn hóa, Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam; mặt khác các báo đều đưa tin làm cho dư luận trong nước rất quan tâm.

Phản hồi đầu tiên đến từ tỉnh Hà Tĩnh, có thắc mắc là sao chưa kỷ niệm Trần Phú mà đã kỷ niệm Nguyễn Du. Ông Đặng Thai Mai đã viết thư cho lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh, đề nghị cho biết rõ ý kiến đó, đồng thời đề nghị Hà Tĩnh chưa nên vội di táng mộ Nguyễn Du và xây dựng trường học trên phần đất đã dự kiến dành cho khu lưu niệm.

Xây trường học trên phần đất khu mộ của Nguyễn Du? Chuyện động trời? Về sau hóa ra chuyện thế này.  Dịp ấy,  một đồng chí lãnh đạo Hà Tĩnh ra Hà Nội họp, đã đến thăm ông Đặng Thai Mai và nói: “Có chuyện chi mô anh, đó chỉ là một cách để Hà Tĩnh “vòi” Trung ương thêm kinh phí kỷ niệm Trần Phú, còn mần cụ mô trước thì có can chi mô vì cũng là danh nhân Hà Tĩnh cả!”.

Vấn đề Hà Tĩnh thế là được giải đáp, sau đó Viện Văn học lại nhận được tiểu luận Trách nhiệm và giá trị Nguyễn Du về truyện Kim Vân Kiều của ông Tôn Quang Phiệt, 91 trang đánh máy. Tác giả bản tiểu luận đã so sánh, đối chiếu Truyện Kiều của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để đi đến kết luận: Nguyễn Du đã phỏng dịch chứ không phải đã sáng tác ra Truyện Kiều, rồi kết thúc bằng mấy câu tập Kiều:

Rằng hay thì thật là hay!

Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra!

Rồi cụ Tôn Quang Phiệt thẳng thắn đề nghị không nên rầm rộ kỷ niệm Nguyễn Du bằng hai câu đậm hơi hướng Kiều thế này.

Dám xin gửi lại một lời:

Yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau!

Có ý kiến cho rằng: Tiểu luận này phản ánh ý kiến của một đồng chí trong Bộ Chính trị. Kèm theo tiểu luận còn có một bức thư gửi đồng chí Tố Hữu:

“ Tôi muốn phổ biến bài này trong khi Viện Văn học đang chuẩn bị việc kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

- Anh có đồng ý cho tôi đưa vấn đề này ra một cuộc nói chuyện và xuất bản công khai để tổ chức một cuộc thảo luận không?”.

Ở góc trái bức thư có lời ghi viết tay của thư ký đồng chí Tố Hữu: “Anh Lành ốm, không gặp được, đề nghị anh Mai (Đặng Thai Mai) gặp, trao đổi và do Viện định”.

Một vài cán bộ nghiên cứu trẻ trong Viện Văn học rất muốn đưa bài đó ra công khai để thảo luận nhưng ông Mai bảo:

“Trong tình hình hiện nay, để một câu chuyện văn chương làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết thì không đáng!”

Và yêu cầu cất bài đó vào ngăn tài liệu lưu trữ của viện.

Chuyện về Nguyễn Du và Truyện Kiều - Kỳ IV: Việc của người trong cuộc ảnh 2 Cuốn Kim vân kiều truyện của Thanh tâm tài nhân (Trung Quốc).

Cũng xin nói thêm, cụ Tôn Quang Phiệt và cụ Đặng Thai Mai cùng quê Thanh Chương - Nghệ An, cùng học trường Quốc học Vinh và Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Gia đình ông Mai còn giữ một tấm ảnh cũ, chụp đội bóng đá trường Quốc học Vinh vào khoảng thập niên 1920, trong đó ông Phiệt là đội trưởng, mặc áo lương đen chít khăn đóng, đứng ở giữa, ông Mai mặc áo thủ môn ngồi bên cạnh. Với quan hệ thân thiết đó thật khó cho ông Mai đến gặp ông Phiệt để nói câu chuyện nghiêm túc trên đây.

Anh Hoài Thanh có sáng kiến cử tôi đi gặp ông Phiệt.

Tôi gọi điện thoại xin gặp bác Phiệt. Buổi sáng tôi đến số 10 phố Trần Hưng Đạo, bác hơi mệt, phải nằm trên giường tiếp chuyện tôi nhưng hai bác cháu vui vẻ trao đổi ý kiến về Truyện Kiều hầu như suốt cả buổi sáng, cuối cùng bác đồng ý là lúc này chưa nên công bố rộng rãi và tổ chức thảo luận về bài của bác. Lúc tôi ra về, bác lấy một gói sách đã gói sẵn để ở đầu giường đưa cho tôi và nói: “Mấy bản Kiều này bác không cần nữa nhưng với cháu thì chắc vẫn còn có ích”. Đó là một số bản Kiều quốc ngữ, in dưới thời Pháp thuộc. Đáng chú ý có một cuốn Kiều của Nguyễn Can Mộng, khổ nhỏ, mà theo ông Nguyễn Tường Phượng thì trước đây một số trí thức Hà Nội gọi một cách khinh thị là “bản Kiều cu ly xe” vì nó gọn, nhỏ, nên các cu ly xe kéo thường dùng để đọc trong lúc ngồi đợi khách!

Sau đó Viện Văn học được truyền đạt ý kiến của đồng chí Lê Duẩn: “Thanh Tâm Tài Nhân của Trung Quốc viết Kim Vân Kiều truyện theo thể tiểu thuyết chương hồi, bằng văn xuôi, chữ Hán. Nguyễn Du của Việt Nam viết Truyện Kiều thành truyện thơ, theo thể lục bát, bằng tiếng Việt. Hai tác phẩm khác nhau, cứ kỷ niệm Nguyễn Du to nhất có thể, không ngại gì cả!”.

Nhân dịp này tôi viết một bức thư kính gửi đồng chí Lê Duẩn trình bày ý kiến sau đây:

- Trong báo cáo Phong trào cách mạng dân tộc và Mặt trận dân tộc ở Nam Bộ từ cuộc Cách mạng tháng Tám đến ngày nay (1951), đồng chí có đề cập đến việc đánh giá Truyện Kiều và phê bình ý kiến của ông Hoài Thanh trong cuốn Quyền sống của con người trong Truyện Kiều (1949): “Lòng đau thương oán giận của cụ Nguyễn Du đâu có phải chỉ vì bọn phong kiến bất lực đê hèn. Chế độ phong kiến vẫn còn đẹp đẽ nguy nga với cụ. Cụ tức giận những bọn phong kiến bất lực mà cụ còn oán ghét một chế độ đương tiến lên, một chế độ thương mại... Vì bản chất giai cấp của cụ, cụ chỉ thấy mặt xấu của đồng tiền mà không thấy mặt tốt, mặt tiến bộ của nó. Đó là phần phản động của Truyện Kiều”. Nhiều người nghiên cứu chưa hiểu rõ ý kiến này của đồng chí. Đề nghị nhân dịp kỷ niệm Nguyễn Du, đồng chí có bài phát biểu về Truyện Kiều.

Anh Đỗ Trình, thư ký riêng của đồng chí Lê Duẩn, đã trả lời tôi: “Bài đó anh Ba phát biểu đã lâu, nay anh cũng muốn phát biểu lại nhưng rất tiếc là không có thì giờ. Đề nghị Viện Văn học không in lại và công bố bài đó”.

Trích nguồn: Tiền Phong

Bên mộ cụ Nguyễn Du – Vương Trọng

Tưởng rằng phận bạc Ðạm Tiên
Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Ðiền nằm đây
Ngẩng trời cao, cúi đất dày
Cắn môi tay nắm bàn tay của mình
Một vùng cồn bãi trống trênh
Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề
Hút tầm chẳng cánh hoa lê
Bạch đàn đôi ngọn gió về nỉ non
Xạc xào lá cỏ héo hon
Bàn chân cát bụi, lối mòn nhỏ nhoi
Lặng im bên nấm mộ rồi
Chưa tin mình đã đến nơi mình tìm

Không cành để gọi tiếng chim
Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời
Không vầng cỏ ấm tay người
Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu


Thanh minh trong những câu Kiều
Rưng rưng con đọc với chiều Nghi Xuân
Cúi đầu tưởng nhớ vĩ nhân
Phong trần còn để phong trần riêng ai
Bao giờ cây súng rời vai
Nung vôi, chở đá tượng đài xây lên
Trái tim lớn giữa thiên nhiên
Tình thương nối nhịp suốt nghìn năm xa...

Vương Trọng

Lời bình của ĐỖ TRỌNG KHƠI:

Qua tấm “căn cước - thơ”, tôi đồ rằng, ông Vương Trọng là người hiếu đễ và ngay thẳng. “Bói chữ” vậy, bởi thấy tình thơ ông rất trực, mạch cảm thường cứ băng băng tiến, rồi mạnh mẽ gọi cái “sự” cái “cảnh” bi hoặc phẫn của đời sống ra mà chất vấn, khiển trách, mà ngậm ngùi. Lời ông ít dụng kiểu “vẽ mây nẩy trăng”, lòng vòng, thâm thúy (tạm gọi như vậy). Cảm xúc thơ ông quả là rất dạt dào, vậy mà dường như câu chữ lại ít vướng víu phải những nghi lễ xâm hương tẩm sắc cầu kỳ, thứ việc cũng thường gặp ở nghệ thuật làm chữ. Thơ ông gần gụi với đời sống con người, lay động ý thức cộng đồng ở những cảnh đời thường, bình dị nhất. Nhờ cái “tâm thi” đó chăng mà tình ông luôn chất chứa nhiều chia sẻ, cảm thông, mang tính giáo dục cao. Cũng bởi vậy, Vương Trọng là nhà thơ có những tác phẩm không chỉ hay về nghệ thuật, mà còn gây được hiệu quả thiết thực trong đời sống xã hội.

Bên mộ cụ Nguyễn Du là tác phẩm mang lại hiệu quả kép như vậy.

Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên

Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây...

Đạm Tiên là nhân vật kỹ nữ yểu mệnh. Mộ nàng cư nơi cỏ áy bóng tà, là nấm mộ vô chủ, không người thân hương khói. Chị em Thúy Kiều đi chơi hội đạp thanh, tình cờ ghé qua, cảm thương mà thắp cho nén hương. "Một lời một cứ vận vào...", ngờ đâu lời than thở cho người đã không chỉ vận vào một đời Kiều, mà nó còn vận sâu, sâu lắm, tới tận mộ phần của tác giả truyện, cụ Nguyễn Du sau những mấy trăm năm:

Một vùng cồn bãi trống trênh

Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề

Hút tầm chẳng cánh hoa lê

Bạch đàn đôi ngọn gió về nỉ non

Và,

Không cành để gọi tiếng chim

Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời

Không vầng cỏ ấm hơi người

Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu...

Quả là, "Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi" (Đọc Tiểu Thanh Ký).  Thưa, cái chữ mệnh - văn chương không mệnh đốt còn vương - sâu xa đến nhường ấy ư?! Phận kẻ quốc sắc vốn lắm đa đoan. Mệnh người thiên tài trong vòng danh lợi, ganh ghét cũng nổi chìm, sai ngoa không kém. Cũng bởi lẽ đời nghìn năm vốn thế, bài thơ Bên mộ cụ Nguyễn Du cảnh thơ dù đẹp, mạch thơ dù thoát, hoạt, nhưng tình thơ vẫn khôn cầm nỗi ngậm sầu, nuốt tủi.

Gương chữ muôn đời của thơ, cũng chính là vậy chăng!

*****

Bàn thêm:

Bên mộ cụ Nguyễn Du được nhà thơ Vương Trọng viết ngày 7-3-1982, nghĩa là cách ngày Đại thắng mùa Xuân 30-4-1975 gần tròn 7 năm. Ngay sau khi bài thơ ra đời không bao lâu, tiếng vang bài thơ gây ra trong đời sống xã hội là to lớn và nó đã mang lại hiệu quả rất thiết thực: Mộ phần Thi hào đã được xây dựng khang trang, đẹp đẽ.

Mới hay, thơ đâu chỉ là chuyện ngâm vịnh, thù tạc. Nói theo dân gian, là “giá trị-suông!” Mà hiệu quả nghệ thuật thơ dâng tặng cuộc đời vẫn như một phương thuốc quý, có công dụng vô cùng đặc hiệu.

ĐTK

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay119
mod_vvisit_counterHôm qua158
mod_vvisit_counterTất cả39638
Hiện có 26 khách Trực tuyến