Nhớ cụ Nguyễn Du- Vân Anh (Nghệ An)

alt

Vân Anh

(Nghệ An)

NHỚ CỤ NGUYỄN DU

Ngày xuân... Ngưng Bích trống trênh

Chiều hôm cửa bể lênh đênh phận Kiều

Nhớ ai ...duềnh ngọn thủy triều

Phải chăng lành ít , dữ nhiều...mai xa ?

Buồn trông... trôi lạc phận hoa

Thuyền duyên vô định đâu là bến yên ?

Chữ " đồng " tạc vẫn còn nguyên

Trà my rã cánh giữa miền ...đa đoan ?

Kiếp này nợ đấng sinh thành

Tu bao kiếp nữa vẹn toàn hiếu nhân ?

Thương Kiều hay Cụ thương thân

Phong trần rồi lại phong trần ...chẳng vơi ?

Vu oan , buộc tội bao người

Xảo nguyên mưu cũ , mới tươi bây giờ ?

Sở Khanh lột xác ...nhởn nhơ

Bẫy tình cài đặt bất ngờ chốn yêu.

Quan tham ra giá dễ chiều

Còn quan xử kiện cho Kiều... trớ trêu

Trong tay luật pháp như diều

Tội cao , tội thấp , ghét yêu tùy người

" Trăm năm trong cõi "...khóc cười

Tiếng thơm đem đổi , đắp bồi quyền danh.

Ngày xuân... Nhớ Cụ , mơ lành

Gươm thiêng Từ Hải tung hoành nghĩa nhân

Phiên tòa mở giữa lòng dân

Gian tham tận diệt , giả chân rõ ràng.

Hai lăm thập kỷ.... thăng trầm

Xin dâng lên Cụ ...tri âm đôi lời !

V.A


Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai- Vương Trọng

Với đông đảo bạn đọc, nói đến Hoạn Thư là nói đến máu ghen, và có người cũng chỉ biết Hoạn Thư ở chuyện ghen mà thôi, chứ ít quan tâm đến những đức tình khác của người “đàn bà dễ có mấy tay” này.Vì bênh vực Thúy Kiều nên ta ghét Hoạn Thư, cũng là điều dế hiểu, thế nhưng Họan Thư “ lòng riêng riêng những kính yêu” nàng Kiều và chính Thúy Kiều cũng nhận ra Hoạn Thư “biết người, biết của”. Thế thì thực chất Hoạn Thư là người thế nào, ta thử xét xem.

alt

Xuất thân từ một gia đình quan lại, bố là Thượng thư bộ Lại, bộ đứng đầu của trăm chức quan, nhà cửa thì “tòa rộng dãy dài”, có nhiều hoành phi câu đối sơn son thếp vàng. Với những gia đình như thế, con cái thường được giáo dục cẩn thận, được học hành tử tế. Do “duyên đằng thuận nẻo gió đưa”, Hoạn Thư kết hôn với Thúc Sinh “cũng nòi thư hương”, chàng theo ông bố làm nghề kinh doanh mãi tận Lâm Tri để du học, cách nhà cả tháng trời theo đường bộ. Thế là Hoạn Thư phải xa chồng, một mình ở nhà với bọn hầu gái, thi thoảng mới ghé về thăm mẹ, tức Hoạn bà, vợ ông Thượng thư bộ Lại.
Theo lẽ thường, mọi người vợ nghe tin chồng ở nơi xa tằng tịu với một người đàn bà nào đó, thì máu ghen đã sôi lên, huống như nghe tin chồng lấy một cô gái lầu thanh làm vợ thiếp. Người vợ bình thường đã đau, Hoạn Thư càng đau hơn vì nàng là con quan thượng thư, luôn được mọi người trọng vọng và không một ai dám làm trái ý mình bao giờ. Và đối với Thúc Sinh nên duyên là do duyên số đưa hai người đến với nhau… thì cái chuyện tày trời do Thúc Sinh gây ra thật quá sức tưởng tượng. Thử hỏi, với một người đàn bà khác đứng vào vị trí của Hoạn Thư thì sao? Thì sẽ cùng gia nhân lao ngay đến Lâm Tri, bắt Thúy Kiều, “cạo đầu bôi vôi”, không xé tan quần áo Thúc Sinh thì cũng bù lu bù loa, để cho “bàn dân thiên hạ” biết được tội lỗi không thể tha thứ của Thúc Sinh. Nhưng Hoạn Thư thì sao? Mặc dù cái tin khủng khiếp ấy làm nàng sôi máu lên, không ghìm nổi, “lửa tâm càng dập càng nồng”, buộc nàng phải có hành động, nhưng nàng tự dặn mình rằng: “ Dại chi chẳng giữ lấy nền / Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình”! Những người thiếu văn hóa thường lấy gia thế của mình làm chỗ dựa cho những hành động có lúc thái quá của mình, nhưng với người có văn hóa, không bao giờ muốn những hành động của mình ảnh hưởng đến gia thế, đến nếp nhà. Hoạn Thư quyết “giữ lấy nền”, giữ lấy gia phong của mình và coi chuyện ghen tuông là chẳng hay ho gì. Mặc dù “ngứa ghẻ, hờn ghen” là thứ không chịu nổi, nhưng là người có văn hóa, Hoạn Thư không bao giờ muốn làm ảnh hưởng đến thanh danh của chồng, mặc dù Thúc Sinh có rất nhiều tội, ngoài việc cưới một cô gái lầu xanh, “lại còn bưng bít giấu quanh”, như đổ thêm dầu vào ngọn “lửa tâm” của nàng.
Phải nói rằng Hoạn Thư là người trầm tĩnh, ý nghĩ sâu xa và quyết làm cho được những điều mình dự kiến. Khổ cho hai kẻ tôi tớ khi nghe tin Thúc Sinh có vợ thiếp ở Lâm Tri thì báo tin cho bà chủ để tâng công, không ngờ “đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng”, một mặt là giữ thể diện cho chồng trươc bọn gia nhân, đồng thời không ảnh hưởng đến “mưu cao vốn đã rấp ranh những ngày” của nàng.
Là một người có văn hóa, nên cách đánh ghen của Hoạn Thư là cách đánh ghen của người có văn hóa. Như trên đã nói, nàng đánh ghen, nhưng không hề làm tổn hại đến thanh danh của chồng. Còn đối với Thúy Kiều, nàng không hề dùng đến bạo lực, không hề dùng một lời lẽ xúc phạm nào. Có người đọc Truyện Kiều không kỹ, tưởng rằng Hoạn Thư đã từng cho gia nhân đánh đập nàng Kiều, sự thật không phải như thế. Ta nhớ rằng khi bọn Khuyển Ưng bắt Kiều từ Lâm Tri về thì đưa nàng đến nhà mẹ của Hoạn Thư, và người sai quân đánh đập Thúy Kiều là Hoạn bà, lúc ấy không hể có mặt Hoạn Thư ở đó, mà mấy ngày sau, làm như vô tình về thăm nhà mẹ đẻ, Hoạn Thư gặp Thúy Kiều và xin mẹ đưa người này về nhà mình. Hoạn Thư là người biết người, biết của nên khi tiếp xúc với Thúy Kiều thì nhận ra đây là một người có tài, nên giảm bớt khoảng cách giữa bà chủ và người hầu, “khuôn uy dường cũng bới vài bốn phân”. Trong Truyện Kiều, Hoạn Thư là người khen Thúy Kiều nhiều nhất, tất cả bốn lần từ khi mới đưa Thúy Kiều từ nhà mẹ về đến nhà mình, cho đến lần cuối gặp nhau ở Quan Âm Các. Khen đánh đàn hay, khen viêt tờ trình giỏi, và khen viết chữ đẹp hơn cả “nàng Ban, ả Tạ”… Số lần khen đã nhiều, và chất lượng lời khen thi không ai sánh kịp: “Số này đáng đúc nhà vàng cũng nên”, nghĩa con người tài như Thúy Kiều, thì nên “đúc nhà vàng” mà ở mới xứng! Thế thì sao Hoạn Thư còn hành hạ Thúy Kiều? Điều này chính Hoạn Thư đã giải thích: “ Chồng chung chữ dễ ai chiều cho ai”. Nhưng cách hành hạ của Hoạn Thư là hành hạ về mặt tinh thần, là bắt đánh đàn hầu hai vợ chồng nàng. Tôi tin rằng chính Hoạn Thư đã nhận ra Thúy Kiều là một người có văn hóa, nên mới hành hạ thế này, mà không hành hạ về thể xác. Vì Thúy Kiều có văn hóa mới nhận ra cái trớ trêu, cái đau, cái nhục…khi đánh đàn hầu Thúc Sinh với Hoạn Thư hơn mọi sự hành hạ khác. Mục đích của Hoạn Thư không phải là muốn triệt đường sinh sống của Thúy Kiều, mà làm cho nhục, làm cho tự Thúy Kiều phải biết mà xa Thúc Sinh ra và việc bố trí cho Kiều ra “coi chùa, chép kinh” ở Quan Âm Các là bước đi đầu tiên. Chúng ta lưu ý điều này: Hoạn Thư không ra lệnh, hoặc hành động bắt Thúy Kiều phải xa Thúc Sinh, mà Hoạn Thư phải tìm cách làm cho Thúy Kiều phải tự nghĩ và quyết định xa Thúc Sinh. Và cái cách làm của Hoạn Thư cũng không hề bạo lực, không hề trách móc hay mắng chửi. Đó là khi Kiều đã ra ở Quan Âm Các, một hôm, Hoạn Thư bảo về thăm mẹ, thế là Thúc Sinh “tranh thủ thời gian” lẻn ra thở than, kể lể, có cả chuyện kể tội Hoạn Thư với Thúy Kiều. Nhưng Hoạn Thư không về thăm mẹ, mà ra rình nghe suốt cả nửa giờ, rồi mới xuất hiện trước mặt hai người, không hề tức giận, mà chỉ “cười cười nói nói ngọt ngào”, để cho Thúy Kiều nhận ra “cười này mới thực khôn lường hiểm sâu” và phải tự quyết định lấy cắp khánh ngọc, nửa đêm trèo tường trốn đi. Hoạn Thư chỉ muốn cho Thúy Kiều tự bỏ đi, thế là thỏa mãn, chứ không muốn cho quân đuổi theo để bắt Kiều về, mặc dù đoạn đường từ Quan Âm Các đến Chiêu Ẩn Am, Thúy Kiều chỉ đi bộ từ nửa đêm đến mờ sáng, xa lắm cũng chỉ vài chục cây số, chẳng thấm tháp gì so với quãng đường từ Vô Tích đến Lâm Tri mà tay chân của Hoạn Thư từng đi bắt Kiều về. Một điều nữa đáng nói là Hoạn Thư còn muốn tạo cho chuyến trốn chạy của Kiều thuận lợi, nên không tiếc số chuông vàng, khánh bạc mà Kiều đã lấy cắp, chắc là coi đó là thứ để Kiều chi tiêu trong quá trình trốn chạy. Hoạn Thư tin Kiều là người thông minh nên biết được nhã ý của mình, nên khi tự bào chữa cho mình trong phiên tòa báo ân báo oán, Hoạn Thư đã nhắc lại điều này:
Nghĩ cho khi các viết kinh
Đến khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo
Chắc chắn khi lấy cắp chuông vàng khánh ngọc nửa đêm trốn đi mà không thấy gia nhân của Hoạn Thư đuổi theo, Thúy Kiều đã biết được rằng chính Hoạn Thư mở đừng sống cho mình, với duy nhất một điều kiện là hãy xa Thúc Sinh.. Bởi vạy, khi nghe Hoạn Thư nhắc lại điều này, là chạm tới mối cảm tình lớn nhất của Thúy Kiều đối với Hoạn Thư, nên : “Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”. Trong Kim Vân Kiều Truyện, thì Hoạn Thư bị đánh tơi bời trước khi được tha, còn trong Truyện Kiều, thì không ai động chạm tới thân thể của Hoạn Thư, cũng như Hoạn Thư chưa từng đụng chạm đến thân thể Thúy Kiều.
Tôi nghĩ rằng, nếu Hoạn Thư và Thúy Kiều không gặp nhau vì một anh chàng Thúc Sinh đa tình nhưng bạc nhược, mà tương ngộ trong những hoàn cảnh khác, thì tôi tin họ sẽ là một đôi bạn tri kỷ, vì cả hai đều có giáo dục, có tài và có văn hóa, sâu sắc và tế nhị. Bi kịch xẩy ra giữa hai người đàn bà này trăm sự chỉ vì “chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”!

Vương Trọng

Mối tình Kiều- Kim trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

PGS.TS.Nguyễn Đức Thuận

alt

Truyện Kiều (nguyên tên khai sinh Đoạn trường tân thanh) là kiệt tác văn học của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Nhân vật trung tâm trong tác phẩm này là nàng Vương Thúy Kiều, một thiếu nữ tuyệt vời tài sắc, thông minh và hiếu nghĩa. Nhưng cuộc đời nàng lại “là một chuỗi dài những bi kịch kế tiếp nhau”(1), trong suốt mười lăm năm của cuộc “đoạn trường”. Đến với Truyện Kiều, bao thế hệ người đọc không chỉ cảm thương cho cuộc đời “dâu bể” của nàng, cũng là cuộc đời chung của biết bao “phận đàn bà…bạc mệnh” trong xã hội phong kiến bạo tàn xưa, mà còn đầy cảm phục, mến yêu tâm hồn và nhân cách cao đẹp của nàng. Trong bóng đêm tối tăm của xã hội Truyện Kiều, với bọn sai nha “đầu trâu mặt ngựa”, bọn buôn thịt bán người xảo trá, đê tiện, những tên quan “mặt sắt đen sì” bất nhân, và đồng tiền chà đạp lên tất cả, vẫn sáng lên một mối tình cao đẹp, đầy ý nghĩa lãng mạn, mối tình Kiều - Kim.

Tác phẩm Truyện Kiều có 3.254 câu thơ lục bát, theo Xuân Diệu, tác giả Nguyễn Du đã dành đến một phần tám tác phẩm này mà xây dựng nên mối tình Kiều - Kim, “cố đem tài mình mà tả tình yêu của hai người ấy”(2), để rồi mỗi khi gấp trang sách lại, bao buồn vui, bao xót xa, thương cảm cứ đầy vơi trong lòng người đọc... Trong kho tàng truyện Nôm của nước ta, cả truyện Nôm văn nhân hay truyện Nôm bình dân, chưa có một mối tình của đôi “tài tử - giai nhân” nào mà để lại nhiều rung cảm đậm sâu như thế!

1. Mối tình Kiều – Kim, trước hết là một mối tình đắm say! Ngày thanh minh trong tiết trời xuân đẹp, Kiều – Kim đã gặp nhau. Trái tim người thiếu nữ xinh đẹp, tài hoa, thông minh và trong trắng đã xao động trước dáng vẻ phong nhã, hào hoa của chàng thư sinh tài danh văn chương trác tuyệt. Và khi người khách đã lên ngựa, đôi mắt Kiều nhi “còn nghé theo” trong không gian “tơ liễu bóng chiều thướt tha”, báo hiệu tình yêu của họ đã “nảy mầm”. Thế rồi, đêm hôm đó, những con sóng của ái tình đã nổi lên, “ngổn ngang trăm mối bên lòng” nàng:

Người đâu gặp gỡ làm chi?

Trăm năm biết có duyên gì hay không?

Chàng Kim, cái “người đâu” mới “gặp gỡ làm chi” trong buổi chiều thanh minh ấy bỗng đã trở thành một “ý trung nhân”, để lại tình cảm bâng khuâng nơi tâm hồn và trong ước muốn tình “duyên” của Kiều. Còn chàng Kim khi “trở lại thư song” thì cũng “nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây”, để cho:

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.

Nỗi niềm tương tư “mặt mơ tưởng mặt” ngập tràn cả trong giấc chiêm bao, trong mùi hương và chén trà nơi phòng văn của chàng Kim. Chàng trai ấy cũng thật đa tình. Chàng không thể kìm nén nổi lòng mình. “Nhớ cảnh nhớ người”, Kim Trọng trở lại nơi gặp gỡ “kỳ ngộ” hôm xưa, nhưng nào đâu có bóng hồng! Chỉ thấy: “Một vùng cỏ mọc xanh rì/ Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu”... Chàng quyết định tìm đến nhà Kiều, “xăm xăm đè nẻo Lam kiều lần sang”, hy vọng được trông thấy nàng! Yêu nhau mà không được nhìn mặt nhau thì “một ngày tưởng dài như ba thu vậy”. Nhưng, thật trớ trêu, nhà nàng “thâm nghiêm kín cổng cao tường”:

Mấy lần cửa đóng then cài,

Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu.

Trong tình yêu, trái tim trai gái muôn đời nay đều mách bảo họ biết phải làm gì khi yêu. Kim Trọng thật khôn ngoan “lấy điều du học hỏi thuê” căn nhà thương gia bỏ không để được gần bên nhà Kiều. Thế rồi, điều gì đến thì sẽ đến! Hai người đã gặp nhau trong cảnh ngộ Kiều để vương chiếc kim thoa trên cành cây. Cho dù lúc đầu Kiều có nói lời “khước từ” theo lối đưa đẩy với chàng Kim: “Dù khi lá thắm chỉ hồng / Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha”, thì sự thật trái tim của nàng cũng đã đầy ắp tình yêu ngay từ ngày thanh minh mới gặp chàng. Và nàng đã nhận lời đính ước với chàng Kim mà không chờ đến ý kiến của mẹ cha như nàng đã nói:

Đã lòng quân tử đa mang

Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung!

Kim Trọng đúng là người yêu lý tưởng trong trái tim nàng. Tuổi trẻ là tuổi của mộng mơ. Thời xưa, mẫu người trai văn nhân “Thanh lạ thường… Lưng cao dài trán rộng / Hỏi ai nhìn không thương?”(3) đã là một mẫu người để biết bao cô gái mơ tưởng. Thế nên, tình yêu của Kiều dành cho chàng Kim là thứ tình yêu cảm mến, sáng trong, tinh khiết.

2. Mối tình Kiều – Kim còn là một mối tình táo bạo và hồn nhiên, vượt lên trên khuôn khổ của lễ giáo phong kiến, như tình yêu mạnh mẽ, quyết liệt của chàng Rômêô và nàng Juliet trong vở bi kịch cùng tên của văn hào Anh Uyliam Sêcxpia vậy.

Sau ngày đính ước, chớp lấy “cơ hội” khi cả nhà đi vắng, Kiều đã sang nhà chàng Kim hai lần, buổi chiều và ban đêm để gặp chàng. Bàn chân nàng “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”, thật mãnh liệt, chúng như có “ma lực” của ái tình lôi cuốn, chủ động và tự tin, nàng đã đi, đi theo tiếng gọi của con tim đắm say tình yêu! Không thể có bất kỳ sợi dây nào của lễ giáo phong kiến có thể trói buộc được bước chân của nàng! Nàng tự biết rằng “khoảng vắng đêm trường” là một không gian và thời gian rất “nhạy cảm”, nhưng không phải vì thế mà e dè không đến với nhau. Thế nên, ngay khi gặp chàng, Kiều đã nói với Kim Trọng:

Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.

Nàng lo sợ, biết đâu có một ngày nào đó, câu chuyện ái tình của hai người đêm nay chỉ như một giấc chiêm bao… Và trong đêm ấy, Kiều – Kim đã thề nguyền “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”, có “vầng trăng vằng vặc” trên trời cao chứng giám, có hương trầm ngào ngạt tỏa thơm và có tiếng đàn tuyệt vời của Kiều ngân rung, làm cho kỷ niệm của buổi thề nguyền càng thêm thiêng liêng và tha thiết! Nhà phê bình văn học Hoài Thanh cho rằng: “Gót chân nàng “thoăn thoắt” đi sang nhà Kim Trọng, cái hình ảnh nàng “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” bây giờ đây vẫn còn có thể làm cho một số người ngơ ngác, phân vân”(4)… và quả thật, nó đã “làm phiền” cho trật tự xã hội phong kiến ấy nhiều lắm!

Đúng như nàng đã cảm nhận, mối tình của Kiều – Kim mới chớm nụ, chưa kịp đơm hoa thì giông bão ập tới. Kiều phải bán mình để cứu cha và em. Đêm trao duyên cho Thúy Vân, bên “ngọn đèn khuya”, nàng xót xa thương chàng Kim mai ngày khi trở lại vườn Thúy nơi này thì tình xưa đã lìa tan:

Công trình kể biết mấy mươi,

Vì ta khăng khít cho người dở dang.

Để rồi, nàng nức nở, vật vã khóc than:

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

Mối tình đầu đẹp đẽ và đầy mộng mơ giữa Kiều và Kim sẽ còn đọng lại mãi mãi trong trái tim nàng, “mai sau dù có bao giờ”, không thể nhạt phai.

Năm tháng thời gian có thể trôi qua, nhưng mùi hương của mối tình đầu đẹp đẽ ấy vẫn cứ mãi thơm ngát trong tâm hồn Kiều, nó sẽ theo đi suốt cuộc đời nàng, trở thành tình yêu trường cửu, vĩnh hằng!

3. Thêm nữa, mối tình Kiều – Kim còn là một mối tình trong trắng, trinh nguyên. Trong suốt chiều dài tác phẩm, mối tình Kiều – Kim không hề vẩn đục bởi màu sắc nhục dục. Cái đêm Thúy Kiều táo bạo sang nhà Kim Trọng tự tình, trước gương mặt mỹ nhân và trong tiếng đàn huyền diệu, lại trong một hoàn cảnh nhạy cảm, con “sóng tình” trong lòng Kim Trọng trào dâng, “xem trong âu yếm có chiều lả lơi”. Mặc dù rất yêu chàng, nhưng Kiều đã không để cho tình yêu lấn át đạo lý, cương thường. Nàng đã khéo chối từ và không ngã vào tay chàng Kim:

Đã cho vào bậc bố kinh,

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu.

Cô gái trẻ ấy đã giữ gìn sự trinh trắng của tâm hồn và thể xác, bởi nàng biết trân trọng sự thiêng liêng của tình yêu, của hạnh phúc mai sau:

Phải điều ăn sổi ở thì

Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày.

Nàng sang nhà Kim đêm ấy là để trao cho chàng tình yêu, còn chuyện trao thân chưa phải lúc. Nàng nói với chàng Kim, như để “vỗ về” chàng:

Vội chi liễu ép hoa nài,

Còn thân ắt cũng đền bồi có khi.

Nhưng rồi điều đó sẽ mãi mãi không bao giờ xảy ra trong cuộc đời của cả hai người, kể cả sau này Kiều – Kim có ngày đoàn viên sau mười lăm năm xa cách. Đã có một lần, biết phải thất thân với Mã Giám sinh, nhớ đến chàng Kim, Kiều cảm thấy ân hận và luyến tiếc:

Biết thân đến bước lạc loài

Nhị đào thà bẻ cho người tình chung!

Sau này, khi gặp lại chàng Kim, nàng không muốn đem tấm thân đã vẩn nhiều cát bụi của trần thế mà dâng lên mối tình trong trắng ngày xưa:

Người yêu ta xấu với người,

Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau!

Đêm “động phòng”, nàng khuyên Kim Trọng đừng nên “vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa”, “hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi”, để cho mối tình ấy mãi mãi trắng trong và thiêng liêng, bất vong bất diệt… Tam Hợp đạo cô đã nhận xét đúng về mối tình của nàng:

Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm.

4. Sau cùng, mối tình Kiều – Kim là một mối tình thủy chung vô hạn.

Ngay sau khi đính ước, thề nguyền, gặp cảnh tai biến, lúc chia tay để chàng Kim về quê chịu tang chú, Kiều đã nói với chàng Kim tấm lòng son sắt, thủy chung của mình:

Cùng nhau trót đã nặng lời,

Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ.

Và:

Đã nguyền hai chữ đồng tâm,

Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.

Lời thề nguyền ấy là thiêng liêng và nó đã đi theo suốt cuộc đời nàng Kiều.

Khi ở lầu Ngưng Bích, tấn bi kịch bị lừa gạt, bị sỉ nhục đang còn đè nặng lên trái tim Kiều, nhưng nàng vẫn không nguôi nhớ về chàng Kim:

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?

Và những ngày đau đớn tủi nhục ở lầu xanh, nàng cũng không quên được hình bóng của chàng:

Tình sâu mong trả nghĩa dày,

Hoa kia đã chắp cành này cho chưa?

Ngay cả khi Kiều đã là vợ Thúc Sinh, trong tâm trạng cô đơn, ngóng chờ Thúc Sinh đang về nhà xin phép Hoạn Thư chấp thuận cho nàng được làm vợ lẽ, Kiều vẫn thầm nhớ đến lời thề nguyền chung thủy với chàng Kim năm xưa:

Tóc thề đã chấm ngang vai

Nào lời non nước, nào lời sắt son?

Trong suốt mười lăm năm lưu lạc, Kiều phải lấy Thúc Sinh, Bạc Hạnh và cả Từ Hải nữa, là những cuộc hôn nhân đầy tính toán mưu mô và cưỡng đoạt, thì cái sợi tơ tình yêu và lời thề thủy chung với chàng Kim xưa vẫn không đứt trong sâu thẳm tâm hồn nàng:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.

Về phía chàng Kim, xã hội phong kiến xưa không đòi hỏi người đàn ông phải thủy chung với một người đàn bà, nhưng chàng cũng là một người tình chung thủy. Kim Trọng quyết ra đi tìm nàng, mặc dù biết chuyện này như là chuyện “đáy bể mò kim” vậy. Hiếm có một mối tình nào mà sau thời gian dài mười mấy năm trời xa cách, với bao đau đớn và tủi nhục mà tấm lòng thủy chung của đôi lứa Kiều - Kim vẫn bền vững như xưa.

Có thể nghĩ rằng, mai sau, văn học sẽ có thể sáng tạo ra những câu chuyện tình khác nữa, nhưng mối tình Kiều – Kim trong tác phẩm Truyện Kiều của thiên tài Nguyễn Du vẫn là một thiên tình sử đẹp nhất. Mối tình này chứa đựng ở đó chất thơ mộng, táo bạo mà sáng trong như gương như ngọc và muôn năm chung thủy. Nó không vẩn đục bởi sắc màu vật chất hay nhục thể. Nó vững bền qua thời gian và cuộc sống đầy bão tố đớn đau…

Đó là điều đã làm nên sức hút diệu kỳ, mà đã bao nhiêu năm tháng trôi qua, mối tình ấy vẫn như ánh sáng lung linh tạo nên vẻ đẹp nhân văn trong tác phẩm Truyện Kiều.

NĐT

Chú thích:

  1. Hoài Thanh, Tuyển tập, tập II, “Nguyễn Du, một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”, VH, HN, tr 99.
  2. Xuân Diệu, Ba thi hào dân tộc, “Bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều”, Nxb Thanh niên, 2001, tr. 285.
  3. Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, trích Nguyễn Nhược Pháp, “Chùa Hương”, VH, HN, 1988, tr.282.
  4. Hoài Thanh, Tuyển tập, tập II, “Nguyễn Du, một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”, Sđd. tr 98.

Chuyện về Nguyễn Du và Truyện Kiều - Việc của người trong cuộc

Được phép của giáo sư (GS) Mai Quốc Liên, xin được cảo thơm lần giở tập tư liệu hồi ức của GS Nguyễn Văn Hoàn.

…Cuối năm 1959, Viện Văn học thuộc Ủy ban Khoa học nhà nước bắt đầu tập trung cán bộ để chuẩn bị thành lập và đi vào hoạt động. Tôi đang làm cán bộ giảng dạy của Khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội liền trở thành cộng tác viên của Nhóm Truyện Kiều thuộc một tổ nghiên cứu của viện có cái tên gọi tắt ngộ nghĩnh Cổ - Cận - Dân (Cổ đại, Cận đại, Dân gian).

Sau đó Viện Văn học có dự kiến sẽ đề nghị kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du vào năm 1965 nên từ đầu năm 1962 tôi được điều về làm cán bộ nghiên cứu của Tổ Cổ - Cận, mới tách ra từ tổ nói trên, do nhà văn Trần Thanh Mại làm tổ trưởng. Công việc đầu tiên của chúng tôi là dự thảo kế hoạch kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

Ngày 2/2/1962, Viện Văn học mở Hội nghị, mời đại diện các ngành liên quan và các nhà văn, nhà nghiên cứu đến góp ý kiến cho bản dự thảo kế hoạch. Đến dự có khoảng 70 người, trong đó có các ông Nguyễn Khánh Toàn, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Ca Văn Thỉnh, Minh Tranh (Ủy ban Khoa học nhà nước), Nguyễn Xuân Trâm (Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam), các nhà nghiên cứu Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách, nhà thơ Xuân Diệu, các GS Hoàng Xuân Nhị, Nguyễn Lương Ngọc, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn (Đại học Hà Nội) v.v...

Sau lời tuyên bố lý do của ông Hoài Thanh, Phó viện trưởng Viện Văn học, ông Nguyễn Khánh Toàn, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước, đã khai mạc hội nghị.

Ông nói: “Việc kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du là một sự kiện lớn trong sinh hoạt văn học của nước ta đồng thời có ý nghĩa chính trị và tầm quan trọng quốc tế. Một kiệt tác là thành tích của một cá nhân, một thiên tài, nhưng đồng thời thể hiện bản lĩnh sáng tạo của một dân tộc. Kỷ niệm Nguyễn Du là một dịp khiến ta hiểu ta hơn, từ đó đề cao tinh thần tự hào dân tộc và từ thực tiễn quá khứ rút ra bài học để tiến lên. Kinh nghiệm Liên Xô: Kỷ niệm 100 năm Puskin đã tạo được một bước phát triển mới cho nghiên cứu văn học, sân khấu, điện ảnh... Vấn đề Nguyễn Du và Truyện Kiều có ý nghĩa quốc tế của nó. Khi thực dân Pháp mới chiếm nước ta, Truyện Kiều là một trong những tác phẩm đầu tiên được dịch và nghiên cứu, đến nay không riêng gì ở Pháp mà ở Liên Xô và nhiều nước khác trên thế giới đều có dịch và nghiên cứu Truyện Kiều. Mấy năm nay Hội đồng Hòa bình thế giới có sáng kiến kỷ niệm danh nhân văn hóa các nước nhưng ta chưa có danh nhân tiêu biểu nào chẵn năm, lần này chúng ta sẽ giới thiệu Nguyễn Du ra thế giới kỷ niệm. Từ nay đến 1965 chúng ta còn 3 năm chuẩn bị,

Thời gian còn lại không nhiều. Viện Văn học sẽ là đơn vị chủ chốt nhưng cần có sự phối hợp với các cơ quan khác, cần có một kế hoạch, một tổ chức, cần lập ngay Ban trù bị kỷ niệm để theo dõi, phối hợp việc thực hiện, kể cả việc phối hợp với các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài”.

Tiếp đó ông Trần Thanh Mại, thay mặt Viện Văn học trình bày kế hoạch dự kiến và hội nghị thảo luận rất hào hứng.

Chuyện về Nguyễn Du và Truyện Kiều - Kỳ IV: Việc của người trong cuộc ảnh 1

Sau cuộc họp, Viện Văn học đã thành lập Ban trù bị kỷ niệm Nguyễn Du và làm tờ trình gửi lên Ban Bí thư, Ban Tuyên huấn Trung ương và đến tận từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, đồng thời gửi lên Ủy ban Khoa học nhà nước, Bộ Văn hóa, Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam; mặt khác các báo đều đưa tin làm cho dư luận trong nước rất quan tâm.

Phản hồi đầu tiên đến từ tỉnh Hà Tĩnh, có thắc mắc là sao chưa kỷ niệm Trần Phú mà đã kỷ niệm Nguyễn Du. Ông Đặng Thai Mai đã viết thư cho lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh, đề nghị cho biết rõ ý kiến đó, đồng thời đề nghị Hà Tĩnh chưa nên vội di táng mộ Nguyễn Du và xây dựng trường học trên phần đất đã dự kiến dành cho khu lưu niệm.

Xây trường học trên phần đất khu mộ của Nguyễn Du? Chuyện động trời? Về sau hóa ra chuyện thế này.  Dịp ấy,  một đồng chí lãnh đạo Hà Tĩnh ra Hà Nội họp, đã đến thăm ông Đặng Thai Mai và nói: “Có chuyện chi mô anh, đó chỉ là một cách để Hà Tĩnh “vòi” Trung ương thêm kinh phí kỷ niệm Trần Phú, còn mần cụ mô trước thì có can chi mô vì cũng là danh nhân Hà Tĩnh cả!”.

Vấn đề Hà Tĩnh thế là được giải đáp, sau đó Viện Văn học lại nhận được tiểu luận Trách nhiệm và giá trị Nguyễn Du về truyện Kim Vân Kiều của ông Tôn Quang Phiệt, 91 trang đánh máy. Tác giả bản tiểu luận đã so sánh, đối chiếu Truyện Kiều của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để đi đến kết luận: Nguyễn Du đã phỏng dịch chứ không phải đã sáng tác ra Truyện Kiều, rồi kết thúc bằng mấy câu tập Kiều:

Rằng hay thì thật là hay!

Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra!

Rồi cụ Tôn Quang Phiệt thẳng thắn đề nghị không nên rầm rộ kỷ niệm Nguyễn Du bằng hai câu đậm hơi hướng Kiều thế này.

Dám xin gửi lại một lời:

Yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau!

Có ý kiến cho rằng: Tiểu luận này phản ánh ý kiến của một đồng chí trong Bộ Chính trị. Kèm theo tiểu luận còn có một bức thư gửi đồng chí Tố Hữu:

“ Tôi muốn phổ biến bài này trong khi Viện Văn học đang chuẩn bị việc kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

- Anh có đồng ý cho tôi đưa vấn đề này ra một cuộc nói chuyện và xuất bản công khai để tổ chức một cuộc thảo luận không?”.

Ở góc trái bức thư có lời ghi viết tay của thư ký đồng chí Tố Hữu: “Anh Lành ốm, không gặp được, đề nghị anh Mai (Đặng Thai Mai) gặp, trao đổi và do Viện định”.

Một vài cán bộ nghiên cứu trẻ trong Viện Văn học rất muốn đưa bài đó ra công khai để thảo luận nhưng ông Mai bảo:

“Trong tình hình hiện nay, để một câu chuyện văn chương làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết thì không đáng!”

Và yêu cầu cất bài đó vào ngăn tài liệu lưu trữ của viện.

Chuyện về Nguyễn Du và Truyện Kiều - Kỳ IV: Việc của người trong cuộc ảnh 2 Cuốn Kim vân kiều truyện của Thanh tâm tài nhân (Trung Quốc).

Cũng xin nói thêm, cụ Tôn Quang Phiệt và cụ Đặng Thai Mai cùng quê Thanh Chương - Nghệ An, cùng học trường Quốc học Vinh và Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Gia đình ông Mai còn giữ một tấm ảnh cũ, chụp đội bóng đá trường Quốc học Vinh vào khoảng thập niên 1920, trong đó ông Phiệt là đội trưởng, mặc áo lương đen chít khăn đóng, đứng ở giữa, ông Mai mặc áo thủ môn ngồi bên cạnh. Với quan hệ thân thiết đó thật khó cho ông Mai đến gặp ông Phiệt để nói câu chuyện nghiêm túc trên đây.

Anh Hoài Thanh có sáng kiến cử tôi đi gặp ông Phiệt.

Tôi gọi điện thoại xin gặp bác Phiệt. Buổi sáng tôi đến số 10 phố Trần Hưng Đạo, bác hơi mệt, phải nằm trên giường tiếp chuyện tôi nhưng hai bác cháu vui vẻ trao đổi ý kiến về Truyện Kiều hầu như suốt cả buổi sáng, cuối cùng bác đồng ý là lúc này chưa nên công bố rộng rãi và tổ chức thảo luận về bài của bác. Lúc tôi ra về, bác lấy một gói sách đã gói sẵn để ở đầu giường đưa cho tôi và nói: “Mấy bản Kiều này bác không cần nữa nhưng với cháu thì chắc vẫn còn có ích”. Đó là một số bản Kiều quốc ngữ, in dưới thời Pháp thuộc. Đáng chú ý có một cuốn Kiều của Nguyễn Can Mộng, khổ nhỏ, mà theo ông Nguyễn Tường Phượng thì trước đây một số trí thức Hà Nội gọi một cách khinh thị là “bản Kiều cu ly xe” vì nó gọn, nhỏ, nên các cu ly xe kéo thường dùng để đọc trong lúc ngồi đợi khách!

Sau đó Viện Văn học được truyền đạt ý kiến của đồng chí Lê Duẩn: “Thanh Tâm Tài Nhân của Trung Quốc viết Kim Vân Kiều truyện theo thể tiểu thuyết chương hồi, bằng văn xuôi, chữ Hán. Nguyễn Du của Việt Nam viết Truyện Kiều thành truyện thơ, theo thể lục bát, bằng tiếng Việt. Hai tác phẩm khác nhau, cứ kỷ niệm Nguyễn Du to nhất có thể, không ngại gì cả!”.

Nhân dịp này tôi viết một bức thư kính gửi đồng chí Lê Duẩn trình bày ý kiến sau đây:

- Trong báo cáo Phong trào cách mạng dân tộc và Mặt trận dân tộc ở Nam Bộ từ cuộc Cách mạng tháng Tám đến ngày nay (1951), đồng chí có đề cập đến việc đánh giá Truyện Kiều và phê bình ý kiến của ông Hoài Thanh trong cuốn Quyền sống của con người trong Truyện Kiều (1949): “Lòng đau thương oán giận của cụ Nguyễn Du đâu có phải chỉ vì bọn phong kiến bất lực đê hèn. Chế độ phong kiến vẫn còn đẹp đẽ nguy nga với cụ. Cụ tức giận những bọn phong kiến bất lực mà cụ còn oán ghét một chế độ đương tiến lên, một chế độ thương mại... Vì bản chất giai cấp của cụ, cụ chỉ thấy mặt xấu của đồng tiền mà không thấy mặt tốt, mặt tiến bộ của nó. Đó là phần phản động của Truyện Kiều”. Nhiều người nghiên cứu chưa hiểu rõ ý kiến này của đồng chí. Đề nghị nhân dịp kỷ niệm Nguyễn Du, đồng chí có bài phát biểu về Truyện Kiều.

Anh Đỗ Trình, thư ký riêng của đồng chí Lê Duẩn, đã trả lời tôi: “Bài đó anh Ba phát biểu đã lâu, nay anh cũng muốn phát biểu lại nhưng rất tiếc là không có thì giờ. Đề nghị Viện Văn học không in lại và công bố bài đó”.

Trích nguồn: Tiền Phong

Bên mộ cụ Nguyễn Du – Vương Trọng

Tưởng rằng phận bạc Ðạm Tiên
Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Ðiền nằm đây
Ngẩng trời cao, cúi đất dày
Cắn môi tay nắm bàn tay của mình
Một vùng cồn bãi trống trênh
Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề
Hút tầm chẳng cánh hoa lê
Bạch đàn đôi ngọn gió về nỉ non
Xạc xào lá cỏ héo hon
Bàn chân cát bụi, lối mòn nhỏ nhoi
Lặng im bên nấm mộ rồi
Chưa tin mình đã đến nơi mình tìm

Không cành để gọi tiếng chim
Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời
Không vầng cỏ ấm tay người
Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu


Thanh minh trong những câu Kiều
Rưng rưng con đọc với chiều Nghi Xuân
Cúi đầu tưởng nhớ vĩ nhân
Phong trần còn để phong trần riêng ai
Bao giờ cây súng rời vai
Nung vôi, chở đá tượng đài xây lên
Trái tim lớn giữa thiên nhiên
Tình thương nối nhịp suốt nghìn năm xa...

Vương Trọng

Lời bình của ĐỖ TRỌNG KHƠI:

Qua tấm “căn cước - thơ”, tôi đồ rằng, ông Vương Trọng là người hiếu đễ và ngay thẳng. “Bói chữ” vậy, bởi thấy tình thơ ông rất trực, mạch cảm thường cứ băng băng tiến, rồi mạnh mẽ gọi cái “sự” cái “cảnh” bi hoặc phẫn của đời sống ra mà chất vấn, khiển trách, mà ngậm ngùi. Lời ông ít dụng kiểu “vẽ mây nẩy trăng”, lòng vòng, thâm thúy (tạm gọi như vậy). Cảm xúc thơ ông quả là rất dạt dào, vậy mà dường như câu chữ lại ít vướng víu phải những nghi lễ xâm hương tẩm sắc cầu kỳ, thứ việc cũng thường gặp ở nghệ thuật làm chữ. Thơ ông gần gụi với đời sống con người, lay động ý thức cộng đồng ở những cảnh đời thường, bình dị nhất. Nhờ cái “tâm thi” đó chăng mà tình ông luôn chất chứa nhiều chia sẻ, cảm thông, mang tính giáo dục cao. Cũng bởi vậy, Vương Trọng là nhà thơ có những tác phẩm không chỉ hay về nghệ thuật, mà còn gây được hiệu quả thiết thực trong đời sống xã hội.

Bên mộ cụ Nguyễn Du là tác phẩm mang lại hiệu quả kép như vậy.

Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên

Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây...

Đạm Tiên là nhân vật kỹ nữ yểu mệnh. Mộ nàng cư nơi cỏ áy bóng tà, là nấm mộ vô chủ, không người thân hương khói. Chị em Thúy Kiều đi chơi hội đạp thanh, tình cờ ghé qua, cảm thương mà thắp cho nén hương. "Một lời một cứ vận vào...", ngờ đâu lời than thở cho người đã không chỉ vận vào một đời Kiều, mà nó còn vận sâu, sâu lắm, tới tận mộ phần của tác giả truyện, cụ Nguyễn Du sau những mấy trăm năm:

Một vùng cồn bãi trống trênh

Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề

Hút tầm chẳng cánh hoa lê

Bạch đàn đôi ngọn gió về nỉ non

Và,

Không cành để gọi tiếng chim

Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời

Không vầng cỏ ấm hơi người

Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu...

Quả là, "Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi" (Đọc Tiểu Thanh Ký).  Thưa, cái chữ mệnh - văn chương không mệnh đốt còn vương - sâu xa đến nhường ấy ư?! Phận kẻ quốc sắc vốn lắm đa đoan. Mệnh người thiên tài trong vòng danh lợi, ganh ghét cũng nổi chìm, sai ngoa không kém. Cũng bởi lẽ đời nghìn năm vốn thế, bài thơ Bên mộ cụ Nguyễn Du cảnh thơ dù đẹp, mạch thơ dù thoát, hoạt, nhưng tình thơ vẫn khôn cầm nỗi ngậm sầu, nuốt tủi.

Gương chữ muôn đời của thơ, cũng chính là vậy chăng!

*****

Bàn thêm:

Bên mộ cụ Nguyễn Du được nhà thơ Vương Trọng viết ngày 7-3-1982, nghĩa là cách ngày Đại thắng mùa Xuân 30-4-1975 gần tròn 7 năm. Ngay sau khi bài thơ ra đời không bao lâu, tiếng vang bài thơ gây ra trong đời sống xã hội là to lớn và nó đã mang lại hiệu quả rất thiết thực: Mộ phần Thi hào đã được xây dựng khang trang, đẹp đẽ.

Mới hay, thơ đâu chỉ là chuyện ngâm vịnh, thù tạc. Nói theo dân gian, là “giá trị-suông!” Mà hiệu quả nghệ thuật thơ dâng tặng cuộc đời vẫn như một phương thuốc quý, có công dụng vô cùng đặc hiệu.

ĐTK

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay17
mod_vvisit_counterHôm qua117
mod_vvisit_counterTất cả19768
Hiện có 14 khách Trực tuyến