Truyện Kiều đã đến với thế giới như thế nào?

Chúng ta vẫn mặc định rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du được thế giới biết đến khá nhiều. Nhưng, nếu tìm hiểu cụ thể, đã có những quốc gia nào thực sự dịch, hoặc tổ chức nghiên cứu về kiệt tác văn học Việt Nam này?

Đây là một trong những nội dung được đặt ra trong Hội thảo Đại thi hào Nguyễn Du & Kiệt tác Truyện Kiều, do Hội Kiều học Việt Nam tổ chức vào sáng 28/7.

Truyện Kiều có tới 13 bản dịch tiếng Pháp

Các nghiên cứu cơ bản cho thấy: tại Mỹ, Pháp và Nga – những quốc gia từng có mối liên hệ đặc biệt với Việt Nam trong lịch sử, Truyện Kiều được dịch và nghiên cứu khá nhiều. Đặc biệt, riêng với tiếng Pháp, Truyện Kiều có tới 13 bản dịch.

Sự xem trọng của người Pháp với Truyện Kiều được minh chứng bằng việc tác phẩm này và tác giả Nguyễn Du được đưa vào bộ từ điển nổi tiếng Các tác phẩm của tất cả các thời đại và các xứ sở.

Tiếp đó, trong phiên bản "tân từ điển" của công trình này, tiểu sử Nguyễn Du và những nhận định về Truyện Kiều được giới thiệu trang trọng trong dung lượng chiếm gần 2 trang.

(Việc trích 2 câu Kiều "Trời còn để có hôm nay/ Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời" của Phó tổng thống Mỹ Joe Biden ngày 7/7 vừa qua là một ví dụ về sức lan tỏa quốc tế của Truyện Kiều)

Đáng chú ý, bên cạnh các bản dịch Truyện Kiều của học giả Việt Nam hoặc Việt kiều như Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Khắc Viện, Lê Cao Phan...., một số bản dịch Truyện Kiều còn được dịch sang tiếng Pháp bởi các nhà thơ của quốc gia này.

Ngay đầu thế kỷ 20, khi tiến hành chuyển ngữ, nhà thơ Rene Crayssac đã xúc động làm một bài thơ có tên Kim và Kiều. Ông nhận định ngắn gọn: "Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác có thể so sánh với những kiệt tác của bất cứ quốc gia và thời đại nào".

Tại Mỹ, việc dịch và nghiên cứu Truyện Kiều đã diễn ra từ trước những lần "lảy Kiều" khi nói về quan hệ Việt – Mỹ của nguyên tổng thống Bill Clinton (năm 2000) và Phó Tổng thống Joe Biden (7/2015).

Cụ thể, năm 1973, GS Việt kiều Huỳnh Sang Thông, giảng viên Đại học Yale, đã dịch Truyện Kiều sang tiếng Anh và được giới nghiên cứu công nhận là dịch rất đúng, rất sát.

Ngoài bản dịch này còn có 3 bản dịch khác của Lê Xuân Thủy, Lê Cao Phan, Michael Counsell. Riêng tại Đại học California, GS Mỹ Mariam cũng đã có nhiều bài nghiên cứu sâu và chuyên biệt về Truyện Kiều.

Tại Nga, Truyện Kiều được giới thiệu và nghiên cứu khá công phu bởi hàng loạt cái tên như Niculin, Tcachiov, Steinberg...

Trong tham luận của mình, PGS Lê Thu Yến (Đại học Quốc gia TP HCM) đã dẫn ra những câu thơ về sự xúc động của nhà thơ Đỗ Lưu khi chứng kiến Truyện Kiều được bày trang trọng trong các thư viện của nước Nga: "Tôi chợt gặp Nguyễn Du/ Trang nghiêm trong thư viện/ Nguyễn Du đến đây từ miền xa gió nắng/ Nỗi đau Kiều là của mọi lương tâm..."

Truyền Kiều qua trăm năm hội nhập

Với hơn 200 năm tồn tại của Truyện Kiều, cũng như cả trăm năm hội nhập văn hóa giữa Việt Nam và thế giới, chúng ta vẫn chưa có một thống kê cuối cùng về vấn đề này.

Trước mắt, theo khảo sát ban đầu của PGS Lê Thu Yến, hiện tại Truyện Kiều đã có khoảng 30 bản dịch tại các nước Trung, Nga, Anh, Mỹ, Đức, Ý, Tiệp, Hungari, Rumani, Nhật, Hàn, Cuba.... Và cơ bản, hầu hết các dịch giả đều mặc nhiên thừa nhận: Truyện Kiều là tác phẩm xứng đáng nhất, tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam.

Bản thân việc dịch hoặc nghiên cứu về Truyện Kiều tại các quốc gia này cũng mang theo nhiều thông tin thú vị. Ở Đức, trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam, vợ chồng Irene và Franz Faber đã dành trọn năm để dịch Truyện Kiều và hoàn thành vào 1963.

Đặc biệt, do hạn chế không thể sang Pháp để tra cứu những điển tích khó trong Truyện Kiều, 2 dịch giả này đã phải nhờ người thân tới Paris, vào Viện Hàn Lâm Pháp để tra cứu giúp.

Tại Nhật, trong chiến tranh thế giới thứ 2, Truyện Kiều đã được dịch giả Komatsu Kiyoshi dịch từ tiếng Pháp. Dịch giả so sánh tác phẩm này với Genji Monogatari – một kiệt tác của văn học Nhật Bản, và nhận xét: "đây là một tác phẩm thơ trữ tình trường thiên chứa đựng rất nhiều tinh thần và văn hóa của người An Nam".

Thậm chí, tại Hàn Quốc, theo PGS Lê Thu Yến, Truyện Kiều được độc giả tại đây xem trọng tới mức họ gọi tác phẩm Xuân Hương truyện của mình bằng cụm từ "Truyện Kiều của Hàn Quốc”. (Xuân Hương truyện cũng nói về một phụ nữ tài sắc, dù rơi xuống địa vị xã hội thấp kém nhưng vẫn giữ vẹn nhân cách).

Tại Trung Quốc, nhiều nhà nghiên cứu đã gọi Truyện Kiều bằng cụm từ "Việt Nam đệ nhất văn nghệ kỳ thư". Thậm chí, 2 nhà nghiên cứu Lưu Thế Đức và Lý Tu Chương còn công nhận rằng Truyện Kiều của Việt Nam nổi tiếng và được lưu truyền rộng rãi hơn so với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân ở Trung Quốc...

Cúc Đường

Niềm tin của Nguyễn Du trong Truyện Kiều

Tháng 7 năm 1994, người Việt Nam có một tin vui. Đó là tin “Tìm thấy một bản Truyện Kiều được viết tay từ năm 1894, tại Luân Đôn”.

alt

Hầu như tất cả chúng ta đều phải nhận rằng Truyện Kiều là một án văn truyệt tác trong văn chương Việt Nam. Người viết Truyện Kiều là Đại Văn Hào Nguyễn Du, tự là Tố Như. Nguyễn Du đã theo “Truyện Thúy Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân, bên Trung Quốc để viết Đoạn Trường Tân Thanh, tức là “Truyện Kiều” ngày nay. Dù vậy, “các nhà phê bình văn học đều cho rằng, Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du là một tác phẩm có tính cách sáng tạo.

Khi đọc Truyện Kiều ai cũng phải khen ngợi Nguyễn Du đã viết những dòng thơ tả tình, tả cảnh thật đặc sắc. Nhưng nếu chúng ta đọc Truyện Kiều để thưởng thức cái hay của việc tả cảnh hay tả tình thì chưa đủ. Tại sao? Tại vì Nguyễn Du vốn đã từng làm quan với nhà Lê, nhưng nay phải làm quan cho nhà Nguyễn. Điều này Ông cho là lỗi đạo với nhà Lê. Nên Ông đã viết Truyện Kiều để gởi gắm tâm sự của mình. Ông mượn lời nàng Thúy Kiều để than thở với nhà Lê:

“ Kim Lang ơi! Hỡi Kim Lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Điều đặc biệt hơn nữa là khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đưa ra những quan điểm về niềm tin trong Nho Giáo, trong Phật Giáo và niềm tin riêng của ông.

Nho Giáo tin vào Trời, tức là Đức Chúa Trời. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đề cập rất nhiều về niềm tin Nho Giáo. Viết Truyện Kiều tới 3.254 câu, thế mà mới viết đến câu số 7, Nguyễn Du đã đề cập đến “Trời” ông viết:

“Lạ gì bỉ sắc thư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.”

Trong niềm đớn đau, nhìn con phải bán mình chuộc cha. Vương Ông than thở:

“Trời làm chi cực bấy Trời!”

Thúy Kiều có khi đã phó thác số phận của mình cho Trời:

“Cũng liều nhắm mắt đưa chân,

Thử xem Con Tạo xoay dần tới đâu?”

Niềm tin vào Trời của Nho Giáo đã được Nguyễn Du viết rõ ràng như sau:

“Ngẫm hay muôn sự tại Trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân,

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.”

Nho gia tin rằng Trời đã định cho ai số mạng thế nào, thì người ấy phải chịu vậy mà thôi. Chính Khổng Tử dạy: “Tử sinh hữu mệnh, phú quý do Thiên” (Tạm dịch: Chết sống có mạng, giàu sang tại Trời).

Nếu chúng ta để ý sẽ thấy Nguyễn Du không những đề cập đến Nho Giáo mà Ông cũng đề cập đến Phật Giáo nữa: “Rỉ rằng: Nhân quả dở dang.” Nhân quả là một giáo lý rất quan trọng của Phật Giáo. Nguyễn Du giảng giải thêm rằng:

“Kiếp xưa đã vụng đường tu,

Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi”.

Dần về cuối truyện, niềm tin Phật Giáo được Nguyễn Du diễn đạt rõ hơn nữa, như:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”

Nghiệp là gì? Phật Giáo tin rằng “nghiệp do nơi mình gây ra, không có Ông Trời ở trong Cái Nghiệp. Mình gây ra “cái nghiệp” thì mình chịu kết quả và ảnh hưởng của nghiệp ấy… Nhà Phật chủ trương nghiệp báo; không công nhận mệnh Trời”.

Nho Giáo dạy đệ tử tin vào Ông Trời. Phật giáo dạy Phật Tử tin vào chính mình. Đức Phật dạy rằng : “Tội lỗi do tâm của người tạo ra, không ai có quyền thưởng phạt được”. Vì “Nghiệp lực do tâm đạo, nghiệp lực cũng do tâm hủy diệt. Tự chính mình tạo lấy, rồi tự chính mình hủy diệt. Không có một vị Thần Linh nào có quyền hủy hoại hoặc ban phước cho ai cả”. Cho nên Hòa Thượng Thích Thanh Từ viết: “Hạnh phúc hay đau khổ do mình chủ động trọn vẹn, chớ không do ai khắc, ngay Phật, Trời cũng không dự phần trong đó”. Vị Hòa Thượng dạy thêm rằng: “Đừng bao giờ xem Đức Phật đủ cả quyền năng ban phúc, giáng họa. Cũng không nên ỷ lại, gởi gắm cả cuộc đời mình vào quyền năng của Ngài. Nếu có tư cách đó là phản bội Đức Phật và cũng không phải là người phật tử.”

Như vậy, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đề cập đến “Thiên mệnh” của Đạo Nho và “cái nghiệp” của Đạo Phật. Ngoài ra, Nguyễn Du còn nói đến một niềm tin của riêng Ông. Ông viết:

“Có Trời mà cũng tại ta.”

Điều này, Nguyễn Du đã đi đến niềm tin giống như nhiều tin trong Đạo của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Chúa Cứu Thế Giê-xu đã dạy: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16). Sống đời đời là sống ở trên Thiên Đàng với Đức Chúa Giê-xu mãi mãi. Trong câu này có hai điểm chính: (a) Đức Chúa Trời tức là “Trời”; (b) hễ ai, nghĩa là “chúng ta”.

  • Khi Nguyễn Du nói “Có Trời” Ông đã nói đúng vào điều quan trọng trong Đạo Chúa. Đạo Chúa nói: “Trời” và nói rõ là “Trời” đã yêu thương nhân loại. Nhìn vào nhân loại, ai cũng thấy đầy dẫy tội lỗi như: “Gian ác, hiểm độc, nói xấu, phao vu, ghét Đức Chúa Trời, xấc láo, kiêu căng, khoác lác, ưa tìm cách làm ác mới mẻ, nghịch cha mẹ, không phân biệt thiện ác, bội ước, không tình nghĩa, không thương xót.” (Rô ma 1: 29-31 BDY). Dù nhân loại tội lỗi như vậy, Đức Chúa Trời cũng thương yêu đã bằng lòng ban xuống cho nhân loại Con Một của Ngài, là Chúa Cứu Thế Giê-xu, là Đấng đã đến trần gian và chịu khổ hình trên cây thập tự- dù Ngài vô tội- để chịu hình phạt thay cho những người biết mình có tội bằng lòng tin nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình.
  • Khi Nguyễn Du nói “cũng tại ta”. Ông đã nói đúng vào điều quan trọng nữa ở trong Đạo của Chúa. Đạo của Chúa nói: ‘ta’ là chúng ta, tức là ‘hễ ai’ nghĩa là “hễ ai tin con ấy”, tức là tin Đức Chúa Giê-xu là Đấng vô tội “chịu chết vì chính chúng ta”. (I Cô-rinh-tô 15:3). Ta phải tin. Tại sao? Vì dù là Chúa Cứu Thế Giê-su đã hoàn tất chương trình cứu rỗi nhân loại mà Đức Chúa Trời đã hoạch định để cứu loài người, nhưng không phải vì vậy mà tất cả nhân loại đều được cứu. Sự cứu rỗi phải có ở ai phía: Một bên là do Đức Chúa Trời, một bên là do loài người.
  • Bên phía Đức Chúa Trời, là “Trời”. Ngài đã hoàn tất điều Ngài cần phải làm, là Con Ngài đã chịu chết thay cho tội nhân trên cây thập tự.
  • Bên phía loài người là ‘ta’. ‘Ta’ phải tin nhận Chúa Giê-xu làm cứu Chúa của mình. Thánh Kinh viết rõ : “Ấy là nhờ ân điển và đức tin mà anh em được cứu.” (Ê-phê-sô 2:8). Ân điển hay ân huệ là do “Trời”, còn lòng tin thì do chính “ta”.

Đức Chúa Trời cho chúng ta được tự do, chúng ta được tùy ý quyết định tin hay không tin Con của Ngài là Đức Chúa Giê-xu. Cho nên, chúng ta có thể nói như Nguyễn Du đã nói: “Có Trời mà cũng tại ta”.

THTL

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay126
mod_vvisit_counterHôm qua158
mod_vvisit_counterTất cả39645
Hiện có 33 khách Trực tuyến