Truyện Kiều - Nguyễn Du (Phần thứ hai, từ câu 1057 đến câu 1226)

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều cũng là đỉnh cao thơ ca cổ điển của dân tộc. Vì vậy, Truyện Kiều luôn được nhân dân ta yêu mến…
Kieuhoc.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

alt
PHẦN THỨ HAI

GIA BIẾN VÀ LƯU LẠC

(Từ câu 1057 đến câu 1226)


Ra ở lầu Ngưng Bích , lại mắc lận Sở Khanh. Bị Tú Bà đánh đập và bắt tiếp khách.


Ngậm ngùi rủ bước rèm châu,
Cách tường, nghe có tiếng đâu họa vần.
Một chàng vừa trạc thanh xuân,
1060. Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng.
Nghĩ rằng cũng mạch thư hương,
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.
Bóng Nga thấp thoáng dưới mành,
Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai:
1065. “Than ôi! Sắc nước hương trời,
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?
Giá đành trong nguyệt trên mây,
Hoa sao, hoa khéo đọa đày bấy hoa?
Tức gan riêng giận trời già,
1070. Lòng này ai tỏ cho ta, hỡi lòng?
Thuyền quyên ví biết anh hùng,
Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi!”
Song thu đã khép cánh ngoài,
Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh.
1075. Nghĩ người thôi lại nghĩ mình,
Cám lòng chua xót, nhạt tình bơ vơ.
Những là lần lữa nắng mưa,
Kiếp phong trần biết bao giờ mới thôi?
Đánh liều nhắn một hai lời,
1080. Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.
Mảnh tiên kể hết xa gần,
Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài.
Tan sương vừa rạng ngày mai,
Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang.
1085. Trời tây bảng lãng bóng vàng,
Phục thư đã thấy tin chàng đến nơi.
Mở xem một bức tiên mai,
Rành rành tích việt có hai chữ đề.
Lấy trong ý tứ mà suy:
1090.Ngày hai mươi mốt, tuất thì phải chăng?”
Chim hôm thoi thót về rừng,
Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành.
Tường đông lay động bóng cành,
Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào.
1095. Sượng sùng đánh dạn ra chào,
Lạy thôi, nàng mới rỉ trao ân cần.
Rằng: “Tôi bèo bọt chút thân,
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh.
Dám nhờ cốt nhục tử sinh,
1100. Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau!”
Lặng ngồi lẩm nhẩm gật đầu:
”Ta đây phải mượn ai đâu mà rằng!
Nàng đà biết đến ta chăng,
Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi!”
1105. Nàng rằng: “Muôn sự ơn người,
Thế nào xin quyết một bài cho xong.”
Rằng: “Ta có ngựa truy phong,
Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi.
Thừa cơ lẻn bước ra đi,
1110. Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn?
Dù khi gió kép, mưa đơn,
Có ta đây, cũng chẳng cơn cớ gì!”
Nghe lời, nàng đã sinh nghi,
Song đà quá đỗi, quản gì được thân.
1115. Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu!
Cùng nhau lẻn bước xuống lầu,
Song song ngựa trước ngựa sau một đoàn.
Đêm thâu khắc lậu canh tàn,
1120. Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm sương.
Lối mòn cỏ nhợt màu sương,
Lòng quê đi một bước đường một đau .
Tiếng gà xao xác gáy mau,
Tiếng người đâu đã mé sau dậy dàng.
1125. Nàng càng thổn thức gan vàng,
Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!
Một mình khôn biết làm sao,
Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hùng.
Hóa nhi thật có nỡ lòng,
1130. Làm chi dày tía vò hồng lắm mau!
Một đoàn đổ đến trước sau,
Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời.
Tú Bà tốc thẳng đến nơi,
Hầm hầm áp điệu một hơi lại nhà.
1135. Hung hăng chẳng nói chẳng tra,
Đang tay vùi liễu, giập hoa tơi bời.
Thịt da ai cũng là người,
Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau.
Hết lời thú phục, khẩn cầu,
1140. Uốn lưng thịt đổ, cất đầu máu sa.
Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,
Nước non lìa cửa, lìa nhà đến đây.
Bây giờ sống chết ở tay,
Thân này đã đến thế này thì thôi!
1145. Nhưng tôi có sá chi tôi,
Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?
Thân lươn bao quản lấm đầu,
Chút lòng trinh bạch từ sau cũng chừa”!
Được lời mụ mới tùy cơ,
1150. Bắt người bảo lĩnh, làm tờ cung chiêu .
Bày vai có ả Mã Kiều,
Xót nàng, ra mới đánh liều chịu đoan.
Mụ càng kể nhặt, kể khoan,
Gạn gùng đến mực nồng nàn mới tha.
1155. Vực nàng vào nghỉ trong nhà,
Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời:
”Thôi đà mắc lận thì thôi!
Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh?
Bạc tình nổi tiếng lầu xanh,
1160. Một tay chôn biết mấy cành phù dung!
Đà đao lập sẵn chước dùng,
Lạ gì một cốt, một đồng xưa nay!
Có ba mươi lạng trao tay,
Không dưng chi có chuyện này, trò kia!
1165. Rồi ra trở mặt tức thì,
Bớt lời, liệu chớ sân si, thiệt đời”!
Nàng rằng: “Thề thốt nặng lời,
Có đâu mà lại ra người hiểm sâu”!
Còn đương suy trước nghĩ sau,
1170. Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào.
Sở Khanh lên tiếng rêu rao:
”Rằng nghe mới có con nào ở đây.
Phao cho quyến gió rủ mây,
Hãy xem có biết mặt này là ai”
1175. Nàng rằng: “Thôi thế thì thôi!
Rằng không, thì cũng vâng lời là không!”
Sở Khanh quắt mắng đùng đùng,
Sấn vào, vừa rắp thị hùng ra tay,
Nàng rằng: “Trời nhẽ có hay!
1180. Quyến anh, rủ yến, sự này tại ai?
Đem người đẩy xuống giếng khơi,
Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay!
Còn tiên tích việt ở tay,
Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai?”
1185. Lời ngay, đông mặt trong ngoài,
Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương!
Phụ tình án đã rõ ràng,
Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui.
Buồng riêng, riêng những sụt sùi,
1190. Nghĩ thân, mà lại ngậm ngùi cho thân:
”Tiếc thay trong giá trắng ngần,
Đến phong trần, cũng phong trần như ai!
Tẻ, vui cũng một kiếp người,
Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru?
1195. Kiếp xưa đã vụng đường tu,
Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi!
Dù sao bình đã vỡ rồi,
Lấy thân mà trả nợ đời cho xong!”
Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong,
1200. Tú Bà ghé lại thong dong dặn dò:
”Nghề chơi cũng lắm công phu,
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều”.
Nàng rằng: ”Mưa gió dập dìu,
Liều thân, thì cũng phải liều thế thôi!”
1205. Mụ rằng: “Ai cũng như ai,
Người ta ai mất tiền hoài đến đây?
Ở trong còn lắm điều hay,
Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.
Này con thuộc lấy nằm lòng,
1210. Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề.
Chơi cho liễu chán hoa chê,
Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời .
Khi khóe hạnh, khi nét ngài,
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa.
1215. Đều là nghề nghiệp trong nhà,
Đủ ngần ấy nết mới là người soi”.
Gót đầu vâng dạy mấy lời,
Dường chau nét nguyệt, dường phai vẻ hồng.
Những nghe nói đã thẹn thùng,
1220. Nước đời lắm nỗi lạ lùng, khắt khe!
Xót mình cửa các, buồng khuê,
Vỡ lòng, học lấy những nghề nghiệp hay!
Khéo là mặt dạn mày dày,
Kiếp người đã đến thế này thì thôi!
1225. Thương thay thân phận lạc loài,
Dẫu sao cũng ở tay người biết sao?


N.D

__________
Chú thích:

1057. Rèm châu: rèm dát ngọc châu.

1061. Mạch: nguồn mạch. Ý nói dòng dõi. Thư hương: cái hương thơm của sách vở. Mạch thư hương: dòng dõi nhà có học.

1062. Sở Khanh có lẽ là tên tự. Bản thân chữ Sở Khanh không bao hàm ý xấu.

1063. Bóng nga: bóng Hằng Nga, bóng người đẹp, chỉ Kiều.

1064. Đeo đai: vương vấn, quyến luyến nhưng hàm ý xấu, thiếu chân thật.

1067. Trong nguyệt trên mây: ý nói có một phẩm giá khác đời, như Hằng Nga trong cung nguyệt, hay tiên nữ trên cung mây.

1070. Chữ lòng ở đầu câu là Sở Khanh tự nói lòng mình, còn chữ lòng ở cuối câu là Sở Khanh hỏi lòng Kiều, hai chữ chỉ riêng hai người.

1071. Thuyền quyên: nghĩa là óng ả, xinh đẹp. Trong văn cổ thường dùng để chỉ người phụ nữ đẹp.

1073. Song thu: cửa sổ mùa thu.

1080. Tế độ: cứu vớt (tiếng nhà Phật).

Trầm luân: chìm đắm. Ý Kiều muốn nhờ Sở Khanh cứu mình như Phật cứu vớt chúng sinh khỏi bể khổ.

1081. Mảnh tiên: mảnh giấy hoa tiên, tức tờ thư.

1082. Nỗi nhà báo đáp: nông nỗi phải báo đáp ơn nhà, bán mình chuộc cha.

1084. Tiện hồng: thuận tiện cánh chim hồng, tức là nhân có người mà gửi thư. Chữ hồng đây dùng như chữ nhạn, chỉ tin tức thư từ.

1085. Phục thư: thư đáp lại, thư trả lời.

1086. Tiên mai: do chữ mai tiên, tờ tiên có vẽ cành hoa mai.

1090. Tuất: giờ tuất, tức tám, chín giờ tối. Hai chữ tích việt của Sở Khanh, đem tản ra theo lối tản tự, thì thành những chữ Trấp nhất nhật tuất lẩu, nghĩa là ngày hai mươi mốt, giờ tuất, chạy trốn. Đó là Sở Khanh bí mật hẹn ngày giờ đi trốn mà Kiều đã lấy ý tứ suy đoán ra.

1091. Thoi thót: chim từng con lần lượt bay về, con này rồi đến con khác.

1092. Trà mi: một thư hoa nở về cuối xuân, đầu hạ, hoa đẹp. Ngậm trăng nửa vành: ý nói buổi tối, vầng trăng chiếu vào hoa trà mi ngậm lấy nửa vành trăng.

1096. Ân cần: ở đây có nghĩa là khẩn khoản.

1097. Bèo bọt: như bèo hay bọt trôi nổi trên mặt nước, ngụ lý lưu lạc lẻ loi.

1098. Yến anh: đây chỉ gái nhà chứa. Ý Kiều nói: nàng như con chim lạc đàn, lại mang lấy cái nợ làm gái nhà chứa.

1099. Cốt nhục tử sinh: do chữ sinh tử nhục cốt. Tả truyện: Sở vị sinh tử nhi nhục cốt đã (thế gọi là làm sống lại người chết, làm mọc thịt nắm xương khô - làm cho người đã chết sống lại, xương đã khô mọc thịt ra). Do đó, người ta thường chỉ sự làm ơn rất sâu sắc, to lớn.

1100. Kết cỏ ngậm vành: Tả truyện: Nguỵ Thù nước Tấn, có một người thiếp yêu, khi sắp chết còn dặn con là Nguỵ Khoả phải đem cả người thiếp chôn theo. Nguỵ Thù chết, Nguỵ Khoả cho người thiếp về không đem chôn theo. Sau Nguỵ Khoả làm tướng đi đánh giặc nước Tần, gặp tướng Tần là Đỗ Hồi, khoẻ mạnh có tiếng, đang lúc đánh nhau, tự nhiên Đỗ Hồi vấp phải đám cỏ mà ngã, bị Nguỵ Khoả bắt được. Đêm về, Nguỵ Khoả mộng thấy một ông già đến nói rằng: "Tôi là cha người thiếp, cảm ơn ông không chôn con gái tôi, nên tôi kết cỏ quấn chân Đỗ Hồi cho nó ngã vấp để báo ơn".

Tục Tề hài ký: Dương Biểu đến chơi núi Hoa Âm cứu sống được một con chim. Đêm ấy có một đồng tử mặc áo vàng đến tặng bốn chiếc vòng và nói rằng: "Ta là sứ giả của Tây Vương Mẫu may được chàng cứu mạng, xin cảm tạ đại ân". Do đó, người ta thường nói "kết cỏ ngậm vành" để chỉ sự đền ơn trả nghĩa.

1107. Truy phong: đuổi theo gió, nói con ngựa đi rất nhanh.

1108. Dưới trướng: do chữ trướng hạ, nguyên chỉ quân sĩ thuộc quyền chỉ huy của một vị tướng soái. Đây dùng để chỉ kẻ tay chân của Sở Khanh.

Kiện nhi: người trẻ tuổi mà có sức khỏe. Sở Khanh khoe nhà y có ngựa tốt và thủ hạ khỏe mạnh, là có ý bảo Kiều nếu chạy trốn thì sẽ sẵn phương tiện và người hộ vệ chắc chắn không phải lo ngại gì.

1110. Ba mươi sáu chước: Nam sử: Vượng Kinh Tắc nói: Tam thập lục sách, tẩu thị thượng kế (ba mươi sáu chước, chạy trốn là trước hay nhất). "Tam thập lục" là một danh từ chỉ chung tất cả các chước, các kế chứ không phải cụ thể là ba mươi sáu chước. Câu này Sở Khanh bảo Kiều chỉ có một kế hay nhất là chạy trốn.

1111. Gió kép mưa đơn: ý nói dù có những trở ngại bất trắc...

1114. Quá đỗi: quá mức, quá đà, ý nói việc đã trót dở dang rồi.

1119. Lậu:  nhỏ giọt (nói về đồng hồ nhỏ giọt). Thời xưa thường dùng "đồng hồ nước" để tính thời khắc. Đó là một cái đồng hồ bằng đồng, dưới có đục lỗ nhỏ, trong chứa nước, giữa đựng một cái tên có khắc độ; nước trong hồ do lỗ nhỏ giọt ra, thì những độ số ở cái tên cũng dần dần lộ ra, xem đó, biết được thời khắc của ngày đêm. Danh từ “đồng hồ” ngày nay còn quen gọi là gốc ở đó.

1121. Lối mòn cỏ nhợt màu sương: tả con đường mòn trong rừng, không phải đường chính, do có người đi nhiều mà thành đường. Cỏ có sương đêm phủ lên nên màu sắc thành nhợt nhạt.

1122. Lòng quê đi một bước đường mà đau: tình thương nhớ quê hương, gia đình càn thêm đau xót vì khi đi với Mã, đến với Tú Bà là đã nhiều chặng đường xa cách, đến đây lại ra đi với Sở Khanh vào một nơi vô định, càng rời xa thêm bước nào, Kiều càng đau xót thêm ngần ấy.

1124. Dậy dàng: xôn xao, ồn ào.

1125. Gan vàng: có nghĩa như lòng vàng. Kiều đoán có người đuổi theo phía sau nên hồi hộp sợ hãi...

1128. Dặm rừng: đường rừng, lối đi trong rừng.

1130. Lắm nau: lắm nao.

1132. Vuốt: Móng sắc của loài thú. ý nói không thoát lối nào được.

1139. Thú phục: thú tội.

Khẩn cầu: khẩn khoản, cầu xin.

1142. Nước non: ý nói cách trở nước non, tức là nơi ở xa xôi.

1150. Bảo lĩnh: người đứng ra đảm bảo, chịu trách nhiệm thay.

Cung chiêu: cung khai, nhận tội Tú Bà muốn bắt buộc Kiều giữ lời hứa, nên bắt làm tờ cung chiêu nhận tội, và bắt người đứng bảo lĩnh về lời cam kết của nàng.

1151. Bày vai: cùng hàng cùng lứa.

1152. Chịu đoan: chịu nhận trách nhiệm về Kiều.

1160. Phù dung: hoa phù dung, ví với người đẹp.

1161. Đà đao: khi đánh giặc, giả thua chạy để người ta đuổi theo, rồi thình lình quăng dao lại chém, gọi là "đà dao". "Đà đao" đây là một chước lừa.

1162. Một cốt một đồng: nói Tú Bà với Sở Khanh thông đồng hiệp mưu với nhau để đánh lừa Kiều.

1146. Không dưng: Nếu không thì tự nhiên làm chi có...

1166. Sân si: phân bua, cãi cọ. Mã Kiều khuyên Kiều nên nén nỗi tức giận, chớ nên đôi có với Sở Khanh mà thiệt mình.

1173. Quyến gió rủ mây: quyến rũ mây gió đi theo. Ý nói quyến rũ Kiều.

1178. Thị hùng: cậy sức mạnh mà ra oai đánh đập người.

1189. Anh yến: chỉ chung những người con gái.

1181. Giếng khơi: giếng sâu.

1182. Ăn lời: nuốt lời, tức không giữ lời.

1184. Mặt ấy, mặt này: Mấy tiếng này, Kiều xỉa xói vào mặt Sở Khanh mà nói, đối đáp lại tiếng "mặt mày" của Sở Khanh ở trên.

1186. Vô lương: cũng như bất lương, không lương thiện, không có lương tâm.

1188. Nghỉ: hắn.

1191. Trong giá trắng ngần: do câu tục ngữ: Trong như giá, trắng như ngần, trong như băng trắng như bạc (ngần là do chữ ngân).

1028. Khép mở, riêng chung: chỉ giọng nói tỉ tê, nửa khép nửa mở, mối tình nỉ non, như riêng như chung, tức những mánh khoé quyến rũ.

1210. Vành ngoài bảy chữ: bảy cách đối với khách ở bề ngoài để cho khách say mê.

Vành trong tám nghề: tám cách đối đãi trong khi ăn nằm với khách, đối với mỗi hạng người, dùng một lối riêng để làm vừa lòng họ.

1213. Khoé hanh: khoé mắt; mắt sắc như lá hạnh.

Khi khoé hạnh, khi nét ngài: ý nói khi mắt liếc, khi mày đưa.

1216. Người soi: người sành sỏi, lịch lãm, biết ngón chơi.

1218. Nét nguyệt: nét lông mày hình vành trăng.

Vẻ hồng: vẻ mặt hồng.

1220. Khắt khe: ở đây như nói éo le, quái ác.

1221. Các khuê: Do chữ khuê các.


(Theo bản Truyện Kiều – NXB Giáo Dục 1984)

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay114
mod_vvisit_counterHôm qua158
mod_vvisit_counterTất cả39633
Hiện có 21 khách Trực tuyến