Truyện Kiều - Nguyễn Du (Phần thứ hai, từ câu 2127 đến câu 2738)

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều cũng là đỉnh cao thơ ca cổ điển của dân tộc. Vì vậy, Truyện Kiều luôn được nhân dân ta yêu mến…
Kieuhoc.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

alt

PHẦN THỨ HAI

GIA BIẾN VÀ LƯU LẠC

(Từ câu 2127 đến câu 2738)

Kiều vào lầu xanh lần thứ hai, gặp Từ Hải và báo ân oán. Hồ Tôn Hiến lập mưu dụ hàng rồi đánh úp giết Từ Hải. Thúy Kiều tự tử ở sông Tiền Đường.


Được lời mụ mới ra đi,
Mách tin họ Bạc tức thì sắm sanh.
Một nhà dọn dẹp linh đình
2130. Quét sân, đặt trác, rửa bình, thắp nhang.
Bạc Sinh quỳ xuống vội vàng,
Quá lời nguyện hết Thành Hoàng, Thổ Công.
Trước sân, lòng đã giãi lòng,
Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên,
2135. Thành thân mới rước xuống thuyền,
Thuận buồm một lá, xuôi miền châu Thai,
Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi,
Bạc Sinh lên trước tìm nơi mọi ngày.
Cũng nhà hành viện xưa nay,
2140. Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người.
Xem người, định giá vừa rồi,
Mối hàng, một đã ra mười thì buông.
Mướn người thuê kiệu rước nàng,
Bạc đem mặt Bạc, kiếm đường cho xa!
2145. Kiệu hoa đặt trước thềm hoa,
Bên trong thấy một mụ ra vội vàng.
Đưa nàng vào lạy gia đường,
Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh!
Thoắt trông nàng đã biết tình,
2150. Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao.
Chém cha cái số hoa đào,
Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!
Nghĩ đời mà chán cho đời,
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!
2155. Tiếc thay nước đã đánh phèn,
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!
Hồng quân với khách hồng quần,
Đã xoay đến thế còn vần chửa tha.
Lỡ từ lạc bước bước ra,
2160. Cái thân liệu những từ nhà liệu đi.
Đầu xanh đã tội tình chi?
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.
Biết thân chạy chẳng khỏi trời,
Cũng liều mặt phấn, cho rồi ngày xanh.
2165. Lần thu gió mát, trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi,
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
2170. Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
2175. Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.
Từ rằng: “Tâm phúc tương cờ
2180. Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu, chim lồng, mà chơi!”
2185. Nàng rằng: “Người dạy quá lời,
Thân này còn dám xem ai làm thường!
Chút riêng chọn đá thử vàng,
Biết đâu mà gởi can tràng vào đâu?
Còn như vào trước ra sau,
2190. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?”
Từ rằng: “Lời nói hữu tình,
Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân.
Lại đây xem lại cho gần,
Phỏng tin được một vài phần hay không?”
2195. Thưa rằng: “Lượng cả bao dong,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội, hoa hèn,
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau”!
Nghe lời vừa ý gật đầu,
2200. Cười rằng: ‘Tri kỷ trước sau mấy người!
Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già!
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau!”
2205. Hai bên ý hợp, tâm đầu,
Khi thân, chẳng lọ là cầu mới thân!
Ngỏ lời nói với băng nhân,
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
Buồn riêng, sửa chốn thanh nhàn,
2210. Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.
Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
2215. Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm, yên ngựa, lên đàng thẳng rong.
Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng,
Chàng đi, thiếp cũng quyết lòng xin đi”.
Từ rằng: “Tâm phúc tương tri,
2220. Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường;
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
2225. Bằng nay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì!”
Quyết lời dứt áo ra đi,
2230. Gió đưa bằng tiện đã lìa dặm khơi.
Nàng thì chiếc bóng song mai,
Đêm thâu đằng đẵng nhặt cài then mây.
Sân rêu chẳng vẽ dấu giầy,
Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân.
2235. Đoái thương muôn dặm tử phần
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa,
Xót thay huyên cỗi, xuân già,
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi?
Chốc là mười mấy năm trời,
2240. Còn ra khi đã da mồi tóc sương.
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
Duyên em dù nối chỉ hồng,
May ra khi đã tay bồng tay mang.
2245. Tấc lòng cố quốc tha hương,
Đường kia, nỗi nọ, ngổn ngang bời bời.
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
Đêm ngày luống những âm thầm,
2250. Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương!
Ngất trời, sát khí mơ màng,
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.
Người quen kẻ thuộc chung quanh
Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi.
2255. Nàng rằng: “Trước đã hẹn lời,
Dẫu trong nguy hiểm dám rời ước xưa!”
Còn đang dùng dắng ngẩn ngơ
Mái ngoài đã thấy bóng cờ tiếng la.
Giáp binh kéo đến quanh nhà,
2260. Đồng thanh cùng gửi: “Nào là phu nhân?”
Hai bên mười vị tướng quân,
Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu.
Cung nga, thể nữ nối sau,
Rằng: “Vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy.
2265. Sẵn sàng phượng liễn loan nghi,
Hoa quan chấp chới, hà y rỡ ràng.
Dựng cờ, nổi trống, lên đàng,
Trúc tơ nổi trước, kiệu vàng theo sau.
Hoả bài tiền lộ ruổi mau,
2270. Nam Đình nghe động trống chầu đại doanh.
Kéo cờ lũy, phát súng thành,
Từ công lên ngựa thân nghênh cửa ngoài.
Rỡ mình lạ vẻ cân đai,
Hãy còn hàm én, mày ngài như xưa.
2275. Cười rằng: “Cá nước duyên ưa!
Nhớ lời nói những bao giờ hay không?
Anh hùng mới biết anh hùng,
Rầy xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?”
Nàng rằng: “Chút phận ngây thơ,
2280. Cũng may dây cát được nhờ bóng cây!
Đến bây giờ mới thấy đây,
Mà lòng đã chắc những ngày một hai!”
Cùng nhau trông mặt cả cười,
Dan tay về chốn trướng mai tự tình.
2285. Tiệc bày thưởng tướng, khao binh
Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân.
Vinh hoa bõ lúc phong trần,
Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày.
Trong quân có lúc vui vầy,
2290. Thong dong mới kể sự ngày hàn vi:
”Khi Vô Tích, khi Lâm Tri,
Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương,
Tấm thân rầy đã nhẹ nhàng,
Chút còn ân, oán đôi đàng chưa xong”.
2295. Từ Công nghe nói thủy chung,
Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
Nghiêm quân, tuyển tướng sẵn sàng,
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao.
Ba quân chỉ ngọn cờ đào,
2300. Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri,
Mấy người phụ bạc xưa kia,
Chiếu danh tầm nã bắt về hỏi tra.
Lại sai lệnh tiễn truyền qua,
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên.
2305. Mụ quản gia, vãi Giác Duyên,
Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời.
Thệ sư kể hết mọi lời,
Lòng lòng cũng giận, người người chấp uy.
Đạo trời, báo phục chỉn ghê,
2310. Khéo thay một mẻ tóm về đầy nơi.
Quân trung gươm lớn, dáo dài,
Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi .
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,
Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân.
2315. Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.
Tiên nghiêm, trống chửa dứt hồi
Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên.
Từ rằng: “Ân, oán hai bên,
2320. Mặc nàng xử quyết, báo đền cho minh”.
Nàng rằng: “Nhờ cậy uy linh,
Hãy xin báo đáp ân tình cho phu.
Báo ân rồi sẽ trả thù”.
Từ rằng: “Việc ấy để cho mặc nàng”.
2325. Cho gươm mời đến Thúc Lang,
Mặt như chàm đổ, mình dường giẽ run.
Nàng rằng: “Nghĩa trọng nghìn non,
Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?
Sâm, Thương chẳng vẹn chữ tòng,
2330. Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?
Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân,
Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là.
Vợ chàng quỷ quái, tinh ma,
Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau!
2335. Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu, cho vừa!”
Thúc Sinh trông mặt bấy giờ,
Mồ hôi chàng đã như mưa ướt đầm.
Lòng riêng mừng, sợ khôn cầm,
2340. Sợ thay, mà lại mừng thầm cho ai.
Mụ già, sư trưởng, thứ hai,
Thoắt đưa đến trước vội mời lên trên,
Dắt tay, mở mặt cho nhìn:
Hoa Nô kia với Trạc Tuyền cũng tôi!
2345. Nhớ khi lỡ bước, sẩy vời,
Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.
Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
Mà lòng Phiếu Mẫu mấy vàng cho cân!”
Hai người trông mặt tần ngần,
2350. Nửa phần khiếp sợ, nửa phần mừng vui .
Nàng rằng: “Xin hãy rốn ngôi,
Xem cho rõ mặt, biết tôi báo thù!”
Kíp truyền chư tướng hiến phù,
Lại đem các tích phạm tù hậu tra.
2355. Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.
Thoạt trông, nàng đã chào thưa:
”Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
2360. Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!”
Hoạn Thư hồn lạc, phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca .
2365. Rằng: “Tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi các viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng, riêng cũng kính yêu,
2370. Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai!
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”
Khen cho: “Thật đã nên rằng,
Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời,
2375. Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
Đã lòng tri quá thời nên,
Truyền quân lệnh xuống trường tiền tha ngay”.
Tạ lòng lạy trước sân mây,
2380. Cửa viên lại dắt một dây dẫn vào.
Nàng rằng: “Lồng lộng trời cao!
Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta!
Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,
Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh;
2385. Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình còn sao?”
Lệnh quân truyền xuống nội đao,
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
Máu rơi thịt nát tan tành,
2390. Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời!
Cho hay muôn sự tại trời,
Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta!
Mấy người bạc ác, tinh ma,
Mình làm mình chịu, kêu mà ai thương!
2395. Ba quân đông mặt pháp trường,
Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi.
Việc nàng báo phục vừa rồi,
Giác Duyên vội vã gởi lời từ quy.
Nàng rằng: “Thiên tải nhất thì,
2400. Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.
Rồi đây bèo hợp mây tan,
Biết đâu hạc nội, mây ngàn là đâu?”
Sư rằng: “Cũng chẳng bao lâu,
Trong năm năm lại gặp nhau đó mà.
2405. Nhớ ngày hành cước phương xa,
Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri,
Bảo cho hội ngộ chi kì,
Năm nay là một, nữa thì năm năm.
Mới hay tiền định chẳng lầm,
2410. Đã tin điều trước, ắt nhằm điều sau .
Còn nhiều ân ái với nhau,
Cơ duyên nào đã hết đâu, vội gì?”
Nàng rằng: “Tiền định tiên tri,
Lời sư đã dạy, ắt thì chẳng sai.
2415. Họa bao giờ có gặp người,
Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân”.
Giác Duyên vâng dặn ân cần,
Tạ từ, thoắt đã dời chân cõi ngoài.


Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến, Kiều tự vẫn

Nàng từ ân oán rạch ròi,
2420. Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng.
Tạ ân, lạy trước Từ Công:
”Chút thân bồ liễu nào mong có rày!
Trộm nhờ sấm sét ra tay,
Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi!
2425. Khắc xương ghi dạ, xiết chi,
Dễ đem gan óc đền nghì trời mây!”
Từ rằng: “Quốc sĩ xưa nay,
Chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
Anh hùng tiếng đã gọi rằng:
2430. Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!
Huống chi việc cũng việc nhà,
Lọ là thâm tạ mới là tri ân!
Xót nàng còn chút song thân,
Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa.
2435. Sao cho muôn dặm một nhà,
Cho người thấy mặt là ta cam lòng”.
Vội truyền sửa tiệc quân trung,
Muôn binh, nghìn tướng hội đồng tẩy oan.
Thừa cơ trúc chẻ, ngói tan,
2440. Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài .
Triều đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà.
Đòi phen gió quét mưa sa,
Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam.
2445. Phong trần mài một lưỡi gươm,
Những loài giá áo, túi cơm sá gì!
Nghênh ngang một cõi biên thùy,
Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương!
Trước cờ, ai dám tranh cường,
2450. Năm năm hùng cứ một phương hải tần.
Có quan tổng đốc trọng thần,
Là Hồ Tôn Hiến, kinh luân gồm tài.
Đẩy xe vâng chỉ đặc sai,
Tiện nghi bát tiễu, việc ngoài đổng nhung.
2455. Biết Từ là đấng anh hùng,
Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn.
Đóng quân, làm chước chiêu an,
Ngọc vàng gấm vóc, sai quan thuyết hàng.
Lại riêng một lễ với nàng,
2460. Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân.
Tin vào gửi trước trung quân,
Từ Công riêng hãy mười phân hồ đồ.
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!
2465. Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau,
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thùy,
2470. Sức này, đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời, khuấy nước, mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai?
Nàng thời thật dạ tin người,
Lễ nhiều, nói ngọt, nghe lời dễ xiêu.
2475. Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thênh đường cái, thanh vân hẹp gì!
Công tư vẹn cả hai bề,
2480. Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
2485. Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng vỗ, hãi hùng cỏ hoa.
Nhân khi bàn bạc gần xa,
Thừa cơ, nàng mới bàn ra nói vào.
Rằng: “Trong Thánh trạch dồi dào,
2490. Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu.
Bình thành công đức bấy lâu,
Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao!
Ngẫm từ gây việc binh đao,
Đống xương Vô định đã cao bằng đầu.
2495. Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào!
Sao bằng lộc trọng, quyền cao,
Công danh ai dứt lối nào cho qua?”
Nghe lời nàng nói mặn mà,
2500. Thế công Từ mới trở ra thế hàng.
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh;
Tin lời thành hạ yêu minh,
Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.
2505. Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Hồ Công quyết kế thừa cơ,
Lễ tiên, binh hậu, khắc cờ tập công.
Kéo cờ chiêu phủ tiên phong,
2510. Lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau.
Từ Công hờ hững biết đâu,
Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên.
Hồ Công ám hiệu trận tiền,
Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ.
2515. Đương khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh, liều giữa trận tiền,
Dạn dầy cho biết gan liền tướng quân!
Khí thiêng khi đã về thần,
2520. Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng!
Trơ như đá, vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng dời.
Quan quân truy sát đuổi dài.
Ầm ầm sát khí, ngất trời ai đang.
2525. Trong hào ngoài lũy tan hoang,
Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.
Khóc rằng: “Trí dũng có thừa,
2530. Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống thác một ngày với nhau!”
Dòng thu như xối cơn sầu,
Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên.
2535. Lạ thay oan khí, tương triền!
Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra!
Quan quân, kẻ lại người qua,
Xót nàng sẽ lại vực ra dần dần.
Đem vào đến trước trung quân,
2540. Hồ Công thấy mặt, ân cần hỏi han.
Rằng: “Nàng chút phận hồng nhan,
Gặp cơn binh cách, nhiều nàn cũng thương!
Đã hay thành toán miếu đường,
Giúp công cũng có lời nàng mới nên.
2545. Bây giờ sự đã vẹn tuyền,
Mặc lòng nghĩ lấy, muốn xin bề nào?”
Nàng càng giọt ngọc tuôn dào,
Ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng.
Rằng: “Từ là đấng anh hùng,
2550. Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi!
Tin tôi, nên quá nghe lời,
Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.
Ngỡ là phu quý phụ vinh,
Ai ngờ một phút tan tành thịt xương!
2555. Năm năm trời biển ngang tàng,
Đem mình đi bỏ chiến trường như không.
Khéo khuyên kể lấy làm công,
Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu!
Xét mình công ít tội nhiều,
2560. Sống thừa, tôi đã nên liều mình tôi!
Xin cho tiện thổ một doi,
Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh”.
Hồ Công nghe nói thương tình,
Truyền cho cảo táng di hình bên sông.
2565. Trong quân mở tiệc hạ công,
Xôn xao tơ trúc, hội đồng quân quan.
Bắt nàng thị yến dưới màn,
Giở say, lại ép cung đàn nhặt tâu .
Một cung gió thảm, mưa sầu,
2570. Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay!
Ve ngâm, vượn hót, nào tày,
Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu .
Hỏi rằng: “Này khúc ở đâu?
Nghe ra muôn oán, nghìn sầu, lắm thay!”
2575. Thưa rằng: “Bạc mệnh khúc này,
Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ .
Cung cầm lựa những ngày xưa,
Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây!”
Nghe càng đắm, ngắm càng say,
2580. Lạ cho mặt sắt, cũng ngây vì tình!
Dạy rằng: “Hương lửa ba sinh,
Dây loan xin nối cầm lành cho ai?”
Thưa rằng: “Chút phận lạc loài,
Trong mình nghĩ đã có người thác oan,
2585. Còn chi nữa, cánh hoa tàn,
Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân.
Rộng thương còn mảnh hồng quần,
Hơi tàn được thấy gốc phần là may”!
Hạ công chén đã quá say,
2590. Hồ Công đến lúc rạng ngày nhớ ra.
Nghĩ mình phương diện quốc gia,
Quan trên nhắm xuống, người ta trông vào.
Phải tuồng trăng gió hay sao,
Sự này biết tính thế nào được đây?
2595. Công nha vừa buổi rạng ngày,
Quyết tình, Hồ mới đoán ngay một bài,
Lệnh quan, ai dám cãi lời,
Ép tình mới gán cho người thổ quan.
Ông tơ thực nhẽ đa đoan!
2600. Xe tơ sao khéo vơ quàng vơ xiên?
Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền,
Lá màn rủ thấp, ngọn đèn khêu cao.
Nàng càng ủ liễu phai đào,
Trăm phần nào có phần nào phần tươi?
2605. Đành thân cát dập, sóng vùi,
Cướp công cha mẹ, thiệt đời thông minh!
Chân trời mặt bể lênh đênh,
Nắm xương biết gởi tử sinh chốn nào!
Duyên đâu, ai dứt tơ đào,
2610. Nợ đâu, ai đã dắt vào tận tay?
Thân sao, thân đến thế này?
Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi!
Đã không biết sống là vui,
Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương!
2615. Một mình cay đắng trăm đường,
Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi!
Mảnh trăng đã gác non đoài,
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong.
Triều đâu nổi tiếng đùng đùng,
2620. Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường.
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây!
”Đạm Tiên, nàng hỡi, có hay!
Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta”.
2625. Dưới đèn sẵn bức tiên hoa,
Một thiên tuyệt bút, gọi là để sau.
Cửa bồng vội mở rèm châu,
Trời cao, sông rộng, một màu bao la.
Rằng: “Từ Công hậu đãi ta,
2630. Chút vì việc nước mà ra phụ lòng.
Giết chồng mà lại lấy chồng,
Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời?
Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên trời, dưới sông!”
2635. Trông vời con nước mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang.
Thổ quan theo vớt vội vàng,
Thời đà đắm ngọc, chìm hương mất rồi!
Thương thay cũng một kiếp người,
2640. Hại thay mang lấy sắc tài làm chi!
Những là oan khổ lưu ly,
Chờ cho hết kiếp, còn gì là thân!
Mười lăm năm bấy nhiêu lần,
Làm gương cho khách hồng quần thử soi!
2645. Đời người đến thế thì thôi,
Trong cơ âm cực, dương hồi, khôn hay .
Mấy người hiếu nghĩa xưa nay,
Trời làm chi đến lâu ngày càng thương!
Giác Duyên từ tiết giã nàng,
2650. Đeo bầu quảy níp, rộng đường vân du.
Gặp bà Tam Hợp đạo cô,
Thong dong hỏi hết nhỏ to sự nàng:
”Người sao hiếu nghĩa đủ đường?
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi?”
2655. Sư rằng: “Phúc họa đạo trời,
Cỗi nguồn, cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng tại ta,
Tu là cõi phúc, Tình là dây oan.
Thúy Kiều sắc sảo, khôn ngoan,
2660. Vô duyên là phận hồng nhan đã đành,
Lại mang lấy một chữ Tình,
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong,
Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.
2665. Ma đưa lối, quỷ đem đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
Hết nạn nọ, đến nạn kia,
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.
Trong vòng giáo dựng, gươm trần,
2670. Kề răng hùm sói gởi thân tôi đòi.
Giữa dòng nước dẫy, sóng dồi,
Trước hàm rồng cá, gieo mồi Thuỷ Tinh.
Oan kia theo mãi với tình,
Một mình mình biết, một mình mình hay.
2675. Làm cho sống đọa thác đầy,
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!”
Giác Duyên nghe nói rụng rời:
”Một đời nàng nhẽ thương ôi còn gì!”
Sư rằng: “Song chẳng hề chi,
2680. Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều.
Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều,
Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm,
Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời!
2685. Hại một người, cứu muôn người,
Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng.
Thửa công đức ấy ai bằng?
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi!
Khi nên, trời cũng chiều người,
2690. Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau.
Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau,
Tiền đường thả một bè lau rước người.
Trước sau cho vẹn một lời,
Duyên ta mà cũng phúc trời chi không!”
2695. Giác Duyên nghe nói mừng lòng,
Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường,
Đánh tranh, chụm nóc thảo đường,
Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi.
Thuê năm ngư phủ hai người,
2700. Đóng thuyền chực bến, kết chài giăng sông.
Một lòng chẳng quảng mấy công,
Khéo thay gặp gỡ cũng trong chuyển vần!
Kiều từ gieo xuống duềnh ngân,
Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.
2705. Ngư ông kéo lưới, vớt người,
Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa!
Trên mui lướt thướt áo là,
Tuy dầm hơi nước, chưa lòa bóng gương.
Giác Duyên nhận thật mặt nàng,
2710. Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai.
Mơ màng phách quế, hồn mai,
Đạm Tiên thoắt đã thấy người ngày xưa.
Rằng: “Tôi đã có lòng chờ,
Mất công mười mấy năm thừa ở đây.
2715. Chị sao phận mỏng, đức dày,
Kiếp xưa đã vậy, kiếp này dễ ai!
Tấm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân.
Một niềm vì nước, vì dân,
2720. Âm công cất một đồng cân đã già?
Đoạn trường sổ rút tên ra,
Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau.
Còn nhiều hưởng thụ về sau,
Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào!”
2725. Nàng nghe ngơ ngẩn biết sao,
Trạc Tuyền nghe tiếng gọi vào bên tai.
Giật mình thoắt tỉnh giấc mai,
Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn.
Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên?
2730. Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư.
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.
2735. Bốn bề bát ngát xa trông,
Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.
Nạn xưa trút sạch lầu lầu,
Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này.

N.D

________
Ghi chú:

2130. Chú ý do cách ngắt nhịp tương đối nhặt ở câu tám(2-2-2-2) và do cách dùng chủ ngữ ẩn với rất nhiều động từ, Nguyễn Du đã vẽ ra một cảnh tượng náo nhiệt, bận rộn ở nhà họ Bạc để tả cảnh đám cưới.

2132. Thành hoàng thổ công: các thần coi giữ một địa phương..

2134. Lễ tơ hồng: tức là Nguyệt Lão, vị thần xe dây cho người nên vợ nên chồng.\

2135. Thành thân: thành vợ thành chồng.

2139. Hành viện: Tên gọi khác của nhà chứa.

2151. Theo nhà thuật số đời xưa thì đào hoa làm một hung tịch, chiếu vào cung mệnh con trai thì bệnh tật, chiếu vào cung mệnh con gái thì phải làm đĩ.

2157. Hồng quân: chỉ con tạo. Hồng quần: cái quần đỏ, được dùng để chỉ người con gái.

2162. Câu này ý nói cuộc đời người con gái đẹp (chỉ Thúy kiều) đã quá nửa thì long đong gian khổ vì phải đền tội lỗi mà nay lại phải bước vào vòng lao khổ.

2164. Mặt phấn: mặt trát phấn, ý thân phận người con gái.

2166. Biên đình: nơi biên ải xa xôi.

2167. Râu hùm, hàm én, mày ngài: tướng mạo khác thường, hùng vĩ của người anh hùng: râu dữ như râu hùm, hàm mở rộng như chim én, mày rậm và to như con tằm (khác với mày ngài của người phụ nữ tả ở trên, nét ngài là lông mày thanh và cong giống như mày con ngài).

2196. Anh hào: anh hùng hào kiệt, hạng người khác thường.

2170. Côn: món võ đánh bằng gậy. Quyền: môn đánh võ bằng tay.

Tam lược: mưu lược và các dùng binh, do chữ Lục thao, Tam lược là hai pho Binh thư đời xưa mà ra.

2172. Việt Đông: Chỉ tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) ở về phía đông sông Việt, nên gọi là Việt Đông.

2176: Hoàng Sào, một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa đời Đường, có câu thơ: Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng, nhất trạo giang sơn tận địa duy (chỉ nửa vai cung kiếm mà tung hoành khắp cả gầm trời, chi một mái chèo mà đi khắp cả non sông). Ý nói khí phách anh hùng.

2176. Tấm lòng nhi nữ: tấm lòng Thúy Kiều, tâm sự đau đớn và tấm lòng kiên trinh của Thúy Kiều.

2179. Tâm phúc tương cờ: Tương cờ tức tương kỳ. Lòng dạ hứa hẹn với nhau. Cấu này ý nói: Từ Hải nói với Kiều là muốn cùng Kiều kết thành đôi lứa tri kỷ chứ không phải là cái tình yêu đương trăng gió tạm bợ.

2182. Mắt xanh: Nguyễn Tịch đời Tấn, trọng ai thì nhìn bằng con mắt xanh, khinh ai thì nhìn bằng con mắt trắng. Câu này ý nói: Từ Hải hỏi Kiều, xưa nay nàng chưa hề xem trọng ai có phải không?

2184. Cá chậu chim lồng: chỉ hạng người tầm thường, sống trong vòng giam hãm, câu thúc.

2192. Bình Nguyên Quân: chính tên là Triệu Thắng, một trọng thần nhà Triệu, đời Chiến quốc được phong đất ở Bình Nguyên nên gọi là Bình Nguyên Quân, nổi tiếng là người hiếu khách. Cao Thích đời Đường có câu: Vị tri can đảm hướng thuỳ thị, linh nhân khước ức Bình Nguyên Quân, nghĩa là chẳng biết gan mật hướng vào ai, khiến người ta lại nhớ Bình Nguyên Quân. Ở đây nhân Kiều nói đến gửi can trường nên Từ Hải lại nhớ đến Bình Nguyên Quân.

2196. Tấn Dương: tên đất, nơi Đường Cao Tổ khởi binh đánh nhà Tuỳ, dựng nên đế nghiệp. Câu này ý nói: Thuý Kiều tin tưởng là Từ Hải sẽ làm nên sự nghiệp đế vương.

2200. Tri kỷ: người hiểu biết mình.

2202. Trần ai: bụi bậm, chỉ lúc người anh hùng còn ẩn náu, chưa có danh vị gì để phân biệt với người thường.

2204. Muôn chung: do chữ vạn chung, muôn hộc thóc. Nghìn tứ do chữ thiên tứ, nghìn cỗ xe, dùng chỉ cảnh giàu sang.

2205. ý hợp tâm đầu: tâm tình và ý nghĩa đều tương đắc với nhau.

2208. Nguyên ngân: số tiền bỏ ra khi trước. Phát hoàn: đưa trả lại.

2210. Bát tiên: Tám vị tiên là Chung Ly Quyền, Lã Động Tần, Trương Quả Lão, Li Thiết Quái, Lam Thái Hoà, Tào Quốc Cữu, Hà Tiên Cô, Hàn Tương Tử. Người ta hay vẽ hình tám vị tiên này trên màn trướng.

2212. Sánh phượng, cưỡi rồng: xưa Kính Trọng, người nước Tần, được quan đại phu nước Tề gả con gái cho, trong quẻ bói được câu: Phượng hoàng vu phi... (Chim phượng hoàng cung bay). Đời Đông Hán, Hoàng Hiến và Lý Ung là hai người có danh vọng, cùng lấy con gái Hoàn Yên, người đời khen hai con gái Hoàn Yến đều cưỡi rồng. Câu này dùng ý hai điển ấy để nói Từ Hải, Thuý Kiều đẹp duyên với nhau.

2214.Trượng phu: ở đây có nghĩa là đàn ông tài giỏi, có chí lớn.

Động lòng bốn phương: ý chí muốn bay nhảy, tung hoành khắp mọi nơi để lập sự nghiệp của người con trai.

2219. Tâm phúc tương tri: biết nhau từ trong thâm tâm, hiểu rõ bụng dạ của nhau.

2220. Nữ nhi thường tình: cái tính thông thường của đàn bà, con gái.

2222. Chiêng: tức chính cổ, chỉ chung chiêng trống. Tinh: tức tinh kỳ, chỉ chung cờ quạt, tượng trưng cho nghi vệ và đội ngũ quân lính ngày xưa.

2224. Nghi gia: do chữ nghi kỳ thất gia ở Kinh Thi, ý nói vợ chồng hoà hợp. Ở đây, hai chữ nghi gia có nghĩa là gái về nhà chồng.

2230. Bằng : Một loại chim rất lớn. Sách Trang Tử có câu Bằng chi tỉ ư Nam minh dã, đoàn phù dạo nhi thướng giả cửu vạn lý (Chim bằng khi rời biển Nam, vỗ cánh trong làn gió cuốn mà bay lên chín vạn dặm tầng không). Người ta thường dùng hình ảnh ấy để chỉ người anh hùng có địa bàn hoạt động rộng rãi, có mưu đồ sự nghiệp lớn lao.

2235. Kinh thi có câu: Duy tang dữ tử, tất cung kính chi. (Cây tang, cây tử do cha mẹ trồng ra,nê phải kính trọng). Người đời sau dùng hai chữ tang tử để chỉ quê nhà.

Hán Cao tổ quê ở Phần Du, sau khi làm vua cớ về làng ấy chơi. Người sau bèn dùng hai chữ phần du để chỉ quê nhà. Ở đây hợp với chữ ấy thành tử phần để chỉ quê nhà.

2236. Thơ Hàn Dũ đời Đường: Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại? Nghĩa là: Mây che ngang núi Tần, biết quê nhà ở đâu? Ở đây mượn ý câu thơ ấy cũng là ý nói Kiều nhớ nhà.

2242. Câu này ý nói : Kiều tuy dứt tình với Kim Trọng, nhưng lòng vẫn không quên chàng, cũng vì như ngó sen bị bẻ gãy, mà sợi tơ vẫn liền với nhau.

2245. Cố quốc tha hương: có nghĩa là quê nhà đất khách.

2247. Cánh hồng bay bổng tuyệt vời: chỉ Từ Hải đương tung hoành nơi xa xôi.

2250. Lửa binh: do chữ binh hoả nghĩa là giặc giã.

2251. Sát khí : cái khí dữ dội của cảnh chém giết, thường được dùng để chỉ cảnh binh đao, sát phạt.

2252. Kình ngạc : hai giống cá to, dữ, thường được dùng để chỉ giặc giã.

Giáp binh: áo giáp và binh khí, đây dùng để chỉ quân lính.

2260. Phu nhân: tiếng xưng hô đối với vợ các người tôn quí. Đây chỉ Thuý Kiều.

2263. Cung nga: gái hầu trong cung, cung nữ.

Thế nữ: loại gái hầu kém cung nữ một bậc. Ở đây tác giả dùng những danh từ ấy là có ý xem Từ Hải như một vị đế vương.

2265. Phượng liễn loan nghi: xe, kiệu và đồ nghi trượng có chạm khắc thêu vẽ hình loan, chim phượng.

2266. Hoa quan: mũ hoa.

Hà y: áo mầu hồng như ráng mặt trời..

2269. Hoả bài: cái thẻ bài hoả tốc, cầm đi trước để báo tin.

2270. Nam Đình: chưa thực rõ nghĩa. Có bản giải là triều đình phương Nam do Từ Hải lập ra.

Đại doanh: doanh trại lớn, nơi đóng đại quân của Từ Hải.

2272. Thân nghênh: ở đây nói Từ Hải đich thân tự mình ra đón Thúy Kiều.

2273: Cân: khăn (mũ); đai: cái đai vòng quanh áo lễ. Câu này ý nói Từ Hải lúc này ăn mặc không phải như lần gặp Kiều khi còn hàn vi, mà đã ăn mặc theo cung cách đế vương.

2275. Cá nước duyên ưa: do câu ngư thuỷ duyên hài, ý nói vợ chồng đẹp duyên với nhau.

2284. Trướng mai: trướng có thêu hoa mai, chỉ phòng ngủ của vợ chồng.

2287. Vinh hoa: lúc giàu sang, sung sướng.

2290. Hàn vi: đói rét, nhỏ mọn, ý nói thuở còn gian nan, khổ cực.

2297. Nghiêm quân: chỉnh đốn hàng ngũ quân lính.

Tuyển tướng: lựa chọn tướng tá.

2298. Ruổi sao: do chữ tinh trì, ý nói đi nhanh như sao đổi ngôi.

2299. Ba quân: danh từ chỉ chung quân đội. Đời xưa quân đội các nước chư hầu có ba quân, mỗi quân 12.500 người. Và các nước thường chia quân đội làm ba bộ phận: trung quân, tả quân, hữu quân; hoặc: trung quân, thượng quân, hạ quân.

2302. Chiếu danh tầm nã: chiếu theo tên mà tìm bắt từng người.

2303. Lệnh tiễn: cờ lệnh có cắm mũi tên sắt của các tướng soái dùng để làm hiệu lệnh hoặc để làm tin.

2307. Thệ sư: lời tuyên cáo và hiểu dụ quân sĩ trước lúc xuất quân.

2308. Chấp uy: chấp hành uy lệnh.

2309. Báo phục: báo trả lại, ý nói làm ân thì sẽ được trả ân, làm oán thì sẽ có lúc bị người ta trả oán.

2312. Cơ, vệ: tên gọi các đơn vị quân lính đời xưa.

Thị lập: đứng hầu.

Song phi: dàn làm hai hàng.

2314. Bác đồng: tức đồng bác, chỉ chung khí giới.

2315. Trướng hùm: dịch chữ hổ trướng. Xưa thường dùng da hùm làm thành cái màn lớn để chủ soái họp bàn với các tướng, nên người sau quen dùng chữ "hổ trướng" để chỉ chỗ làm việc của các tướng soái.

Trung quân: đội quân đóng ở giữa, do chính chủ tướng chỉ huy.

2318. Cửa viên: viên là cái càng xe. Đời xưa lúc quân đội cắm trại thường chồng xe làm cửa, nên cửa doanh trại của quân đội gọi là "viên môn".

2326. Chàm đổ: mặt xanh như màu chàm đổ vào.

Giẽ run: mình run như chim giẽ.

2329. Sâm và Thương: hay còn gọi là sao hôm và sao mai, chính ra là Kim tinh, một hành tinh đi trong quỹ đạo trái đất, nhưng người xưa nhận lầm  là một ngôi mọc ở phương đông, một ngôi mọc ở phương tây, sao này mọc, sao kia lặn, hai sao không bao giờ gặp nhau. Vì vậy xưa thường dùng hai chữ Sâm Thương để chỉ sự cách biệt.

2334. Tục ngữ: kẻ cắp gặp bà già, ý nói một kẻ ranh ma, quỷ quái nay lại bị trừng phạt.

2341. Mụ già: chỉ bà quản gia nhà họ Hoạn.

Sư trưởng: chỉ Giác Duyên.

2348. Phiếu mẫu: bà làm nghề giặt sợi ở bến nước. Hàn Tín đời Hán lúc hàn vi được bà Phiếu Mẫu đãi một bữa cơm, sau làm đến tước vương, tạ ơn nghìn vàng.

2353. Hiến phù: dâng nộp những người bắt được.

2354. Hậu tra: chờ để tra xét.

2356. Chính danh thủ phạm: tên phạm tội nặng nhất, đứng đầu các tên khác.

2367. Khi các viêt kinh: lúc Hoạn Thư cho Thúy Kiều ra Quan Âm các nhà Hoạn Thư để viết kinh, thôi không đày đọa bắt làm hoa nô nữa.

2377. Tri quá: biết lỗi, từ mình biết nhận rằng mình có lỗi.

2387. Nội đao: quân đao phủ, chuyên việc chém giết người có tội.

2388. Gia hình: trị tội về thể xác.

2395. Pháp trường: chỗ để hành hình người có tội.

2396. Thanh thiên bạch nhật: trời xanh ngày trắng, ý nói giữa ban ngày ban mặt, ai cũng được chứng kiến.

2398. Từ quy: từ giã ra về.

2399. Thiên tải nhất thì: ngàn năm mới có một dịp. Câu này thường dùng để chỉ dịp may hiếm có.

Bàn hoàn: ở đây có nghĩa là gặp gỡ, trò chuyện.

2404. Hạc nội: chim hạc ở ngoài đồng nội. Mây ngàn: Đám mây bay trên rừng núi. Ý nói nay đây mai đó, nơi ở không nhất định.

2405. Hành cước: đi bộ, tiếng nhà Phật, chỉ việc các nhà sư đi vân du.

2406. Tiên tri: biết trước mọi việc chưa xảy ra.

2407. Hội ngộ chi kỳ: cái kỳ hẹn gặp gỡ nhau.

2409. Tiền định: đã định sẵn từ trước.

2416. Chung thân: trọn đời, ý nói Kiều muốn hỏi số phận của mình suốt đời ra sao.

2425. Khắc xương ghi dạ: do chữ minh tâm khắc cốt: Ý nói ơn sâu của Từ, Kiều xin ghi vào lòng, khắc vào xương không bao giờ quên.

2426. Nghì trời mây: ơn nghĩa cao cả như trời mây.

2427. Quốc sĩ: kẻ sĩ tài giỏi có tiếng trong nước.

2430. Cổ ngữ: Lộ kiến bất bình, bạt dao tương trợ, ý nói người anh hùng nghĩa hiệp, giữa đường đi mà thấy điều gì không công bằng thì tuốt gươm ra mà giúp sức cho người bị áp bức. Câu này mượn ý ấy.

2432. Thâm tạ: tạ ơn một cách sâu sắc.

Tri ân: biết ơn của người khác đối với mình.

2434. Việt: Một xứ ở Đông nam Trung Quốc;

Tần: Một xứ ở bắc Trung Quốc. Kẻ Việt, người Tần có nghĩa là cách biệt xa xôi.

2438. Tẩy oan: rửa tội oan, ý nói Từ Hải sai mở tiệc để làm hội rửa sạch tội oan cho Kiều.

2439. Trúc chẻ: chẻ cây trúc; ngói tan: ngói sụt vỡ; chẻ trúc chỉ sau một vài đốt thời cả cây tách ra dễ dàng, ngói sụt cũng vậy. Ý nói Từ Hải thừa thắng đánh đâu được đấy.

2440. Bình uy: uy thế của quân đội. Câu này ý nói: uy thế của quân Từ Hải từ đó vang dội trong ngoài như sấm dậy.

2444. Huyện thành: thành trì của một huyện. Câu này ý nói: quân Từ Hải đánh chiếm được năm huyện phía Nam Trung Quốc.

2446. Giá áo túi cơm: cái giá để mắc áo, cái túi để đựng cơm, ý nói người vô dụng hèn kém.

2448. Cô và quả (tức quả nhân): tiếng tự xưng của vua chúa đời xưa. Bá Vương cũng nghĩa như vua chúa. Câu này ý nói: Từ Hải cũng xưng cô xưng quả, làm vương làm bá một phương chứ không kém gì ai.

2449. Tranh cường: đua tranh về sức mạnh. Câu này ý nói: trước ngọn cờ của Từ Hải không ai dám chống lại.

2450. Hùng cứ: lấy sức mạnh mà chiếm giữ.

Hải tần: đất ven biển.

2452. Kinh luân: nghĩa đen là quay tơ và bện tơ, người ta thường dùng để nói tài sắp xếp chính sự, kinh bang tế thế.

2453. Đẩy xe: do chữ thôi cốc (đẩy bánh xe). Đời xưa, khi sai tướng đi đánh giặc, vua thường tự mình đẩy vào xe của viên tướng một cái, để tỏ ý tôn trọng. Câu này ý nói: vua nhà Minh sai Hồ Tôn Hiến đi đánh Từ Hải là một việc rất quan trọng.

2454. Tiện nghi bát tiễu: tuỳ tiện mà đánh đẹp.

Đổng nhung: trông coi, đốc suất việc quân.

2457. Chiêu an: kêu gọi chiêu dụ cho giặc đầu hàng.

2466. Chú ý trong bốn câu:”Một tay gây dựng… Hàng thần lơ láo”, Nguyễn Du đã sử dụng rất tài tình hai hoán dụ “Một tay” và “Bó thân”.

2485. Chiếc bách: do chữ bách châu có nghĩa là mảnh thuyền, ý nói thân phận lênh đênh.

2489. Thánh trạch: ơn thánh, ý nói ơn vua.

2491. Bình thành: do chữ địa bình thiên thành Kinh thư, ý nói nhà vua sửa sang việc nước cho trời đất được bằng phẳng.

2494. Vô định: tên một con sông ở biên thuỳ tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc). Ngày xưa ở con sông ấy đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa người Hán và người Hồ, làm cho rất nhiều người bị chết. Đường Thi có câu: Khả liên Vô Định hà biên cốt, da thịt thâm khuê mộng lí nhân, nghĩa là: Thương thay nắm xương khô bên sông Vô Định còn là người trong giấc mộng của kẻ cửa các phòng khuê.

2496. Hoàng Sào: một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa cuối đời Đường, đã từng vây hãm kinh đô Trường An, tung hoành trong mười năm trời, sau bị thủ hạ giết chết.

2502. Thúc giáp: bó áo giáp lại.

Giải binh: cho quân đội nghỉ ngơi không chiến đấu nữa.

2530. Thành hạ yêu minh: cùng nhau ăn thề dưới thành để tỏ ý không làm hại nhau và thật thà tuân theo đúng những điều đã ước hẹn.

2506. Vương sư: quân của nhà vua, tức quân của Hồ Tôn Hiến.

2507. Quyết kế thừa cơ: quyết định cái mưu là nhân cơ hội Từ Hải trễ tràng việc quân để đánh.

2508. Lễ tiên bình hậu: phía trước thì đàn nghi lễ để chiêu hàng, phía sau thì phục sẵn binh mã để phản công.

Khắc cờ: ấn định kỳ hạn.

Tập công: đánh úp.

2509. Chiêu phủ: kêu gọi, vỗ về, để cho quy hàng.

Tiên phong: toán quân đi trước. Câu này ý nói: Hồ Tôn Hiến lập mưu cho kéo cờ "chiêu phủ" đi trước.

2512. Đại quan lễ phục: ăn bận theo phục sức của vị quan lớn.

2529. Trí dũng: trí khôn và sức mạnh.

2533. Dòng thu: đây là chỉ nước mắt.

2535. Oan khí tương triền: cái khí oan ức vấn vít lại với nhau. Câu này ý nói: Giữa Từ Hải và Thuý Kiều hình như hồn linh có sự linh cảm với nhau.

2542. Binh cách: binh là binh khí. Cách là áo giáp và mũ đầu mâu. Người ta thường dùng hai chữ binh cách để chỉ cuộc binh đao chinh chiến.

2543. Thành toán miếu đường: mưu chước đã sắp đặt sẵn ở nơi tốn miếu triều đường. Câu này ý nói: đành hay triều đình đã có mưu kế sẵn, nhưng cũng nhờ lời nàng nói giúp mới nên việc.

2552. Bách chiến: trăm trận đánh, ý nói Từ Hải là một người dạn dày trong chiến trận.

2553. Phu quí phụ vinh: chồng làm nên quan sang thì vợ cũng được vinh hiển.

2561. Tiện thổ: miếng đất xấu.

2564. Cảo táng: chôn một cách sơ sài, không có khâm liệm quan quách gì. Di hình: cũng như di hài.

2565. Hạ công: mừng công (thắng trận).

2567. Thị yến: hầu hạ bên bàn tiệc.

2580. Mặt sắt; do chữ thiết diện, mặt đen cứng rắn như sắt, thường mượn chỉ một vị quan cương trực, nghiêm nghị. Ở đây, Nguyễn Du dùng với ý xấu; điều đáng lấy làm lạ là một con người không còn tâm hồn tình cảm như Hồ Tôn Hiến mà cùng “ngây vì tình”.

2581. Hương lửa ba sinh: hương lửa: do chữ hương hỏa. Tục xưa khi làm lễ thề ước với nhau thường đốt đèn hương. Về sau hai chữ lửa hương, thường dùng chỉ tình duyên vợ chồng. Hương lửa ba sinh: thề ước êu nhau, lấy nhau suốt ba kiếp.

2582. Dây loan: tức keo loan, thứ keo thường dùng để gắn phím đàn, dây cung. Sau người ta thường dùng chữ này nói về việc hàn gắn tình nghĩa cũ. Chú ý lời nói trơ trẽn bỉ ổi của Hồ Tôn Hiến, hắn dỗ dành Kiều để hắn thay Từ Hải nối duyên vợ chồng với Kiều.

2586. Tiểu lân: Tên nàng Phùng Thục Phi, vợ vua nước Tề, sau khi nước Tề mất, nàng về tay người khác, nhân lúc dây đàn đứt, nàng làm bài thơ trong đó có câu: Dục tri tâm đoạn tuyệt, ưng khan tất thương huyền (muốn biết tơ lòng tan nát, nên xem cái dây trên đầu gối). Nguyễn Du mượn ý này để nói lòng Thúy Kiều đã tan nát, không còn thiết tha gì đến tình duyên hạnh phúc nữa.

2591. Phương diện quốc gia: vị quan đảm đang công việc một vùng đất nước, thường dùng để chỉ các ông quan cai trị một địa phương.

2596. Công nha: chỗ làm việc quan, cũng như công môn đường v.v.

2598. Thổ quan: cũng như thổ tù, viên quan người ở bản thổ, có thể ở vùng dân tộc ít người.

2599. Đa đoan: nhiều mối, nhiều việc, ý nói rắc rối, lôi thôi.

2609. Tơ đào: cũng như tơ hồng. Câu này ý nói: Ai đã chia rẽ nhân duyên của mình, đối nghĩa với câu dưới: "Nợ đâu, ai đã giắt vào tận tay?". Nợ đây tức là việc "Ép tình mới gán cho người thổ quan".

2619. Triều: nước thuỷ triều. Ở cửa sông Tiền Đường (Trung Quốc) khi triều lên thì có tiếng sóng đùng đùng.

2621. Thần mộng: lời báo mộng của thần, ý nói lời Đạm Tiên dặn trong chiêm bao, lúc Kiều tự vẫn ở nhà Tú Bà: "Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau".

2625. Tiên hoa: do chữ hoa tiên, tờ giấy vẽ hoa, chuyên dùng để viết thư.

2626. Tuyệt bút: bút tích cuối cùng, viết trước khi chết để kể nỗi tâm tình của mình cho người sau biết.

2627. Cửa hồng: cửa thuyền.

Rèm châu: rèm có trang sức châu báu, hoặc rèm sơn màu đỏ.

2635. Con nước: tiếng quen gọi của dân chài lưới để chỉ nước thủy triều lên xuống.

2638. Người xưa thường dùng hai chữ hương ngọc để chỉ phụ nữ.

2646. Âm cực dương hồi: khi khí âm đến hết mực thì khí dương lại trở về. Câu này cũng nghĩa như câu bĩ cực thái lai, ý nói con người ta khi vận đen đã hết thì vận đỏ trở lại.

2650. Bầu: quả bầu khô rút ruột đi để đựng nước.

Níp: cái tráp đan bằng tre để đựng quần áo sách vở. Hai vật thường dùng của những người đi đường thời xưa.

Vân du: danh từ nhà Phật, ý nói nhà sư đi lang thang nay đây mai đó như đám mây bay vô định.

2655. Phúc hoạ đạo trời: nói người ở đời gặp phúc hay gặp hoạ đều do ý trời, không phải ngẫu nhiên.

2668. Thanh lâu: gái điếm. Thanh y: gái hầu. Thuý Kiều làm gái điếm một lần ở Lâm Tri, một lần ở Châu Thai và làm gái hầu một lần ở nhà Hoạn bà, một lần ở nhà Hoạn Thư.

2670. Hùm sói: người xưa thường dùng hai chữ hùm sói để chỉ các tướng giặc. Ở đây ám chỉ Kiều phải gửi thân vào Từ Hải.

2680. Nghiệp duyên: danh từ nhà Phật có nghĩa là mối duyên nợ do bản thân mình làm nên từ kiếp trước.

2681. Tội nghiệp: cái nghiệp đầy tội lỗi (theo quan niệm nhà Phật).

2683. Tình thân: Do câu phụ tử tình thân. Câu này ý nói: Thuý Kiều đền bối ơn nghĩa sâu sắc của cha mẹ.

2687. Thửa công đức: do chữ kì công đức, nghĩa là công đức ấy.

2688. Túc khiên: tội lỗi kiếp trước.

2697. Thảo đường: nhà lợp bằng gianh, bằng cỏ.

2699. Ngư phủ: người làm nghề chài lưới.

2703. Duềnh ngân: dòng nước bạc.

2705. Ngư ông: ông lão đánh cá, tức "ngư phủ" nói trên.

2711. Phách quế hồn mai: do chữ quế phách mai hồn. Hai chữ "quế mai" ở đây chỉ có ý thêm thắt dùng cho đẹp lời văn.

2720. Âm công: công đức cứu người làm ngấm ngầm, không ai biết, cũng gần như nói âm đức.

2722. Thơ đây là nói mười bài thơ Đoạn trường do Đạm Tiên đưa Kiều vịnh khi trước.

2732. Thảo lưu: nhà tranh cũng nghĩa như thảo đường.


(Theo bản Truyện Kiều – NXB Giáo dục 1984)

Truyện Kiều - Nguyễn Du (Phần thứ hai, từ câu 1715 đến câu 2126)

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều cũng là đỉnh cao thơ ca cổ điển của dân tộc. Vì vậy, Truyện Kiều luôn được nhân dân ta yêu mến…
Kieuhoc.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

alt

PHẦN THỨ HAI

GIA BIẾN VÀ LƯU LẠC

(Từ câu 1715 đến câu 2126)


Thúy Kiều rơi vào tay Hoạn Bà, Hoạn Thư
Hoạn Thư hành hạ Thúy Kiều



1715. Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai,
Cửa nhà đâu mất, lâu đài nào đây?
Bàng hoàng giở tỉnh, giở say,
Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu.
A hoàn trên dưới giục mau,
1720. Hãi hùng nàng mới theo sau một người.
Ngước trông tòa rộng dãy dài,
Thiên Quan Trủng Tể có bài treo trên.
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo, ngồi trên một bà.
1725. Gạn gùng, ngọn hỏi, ngành tra,
Sự mình, nàng đã cứ mà gửi thưa.
Bất tình nổi trận mây mưa,
Mắng rằng: “Những giống bơ thờ quen thân!
Con này chẳng phải thiện nhân,
1730. Chẳng phường trốn chúa, thì quân lộn chồng.
Ra tuồng mèo mả gà đồng,
Ra tuồng lúng túng, chẳng xong bề nào.
Đã đem mình bán cửa tao,
Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này!
1735. Nào là gia pháp nọ bay!
Hãy cho ba chục, biết tay một lần”!
A hoàn trên dưới dạ ran,
Dẫu rằng trăm miệng không phân lẽ nào!
Trúc côn ra sức đập vào,
1740. Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh.
Xót thay đào lí một cành,
Một phen mưa gió, tan tành một phen.
Hoa nô truyền dạy đổi tên,
Buồng the dạy ép vào phiên thị tì.
1745. Ra vào theo lũ thanh y,
Dãi dầu tóc rối, da chì quản bao.
Quản gia có một mụ nào,
Thấy người, thấy nết, ra vào mà thương.
Khi chè chén, khi thuốc thang,
1750. Đem lời phương tiện, mở đường hiếu sinh.
Dạy rằng: “May rủi đã đành,
Liễu bồ mình giữ lấy mình cho hay.
Cũng là oan nghiệp chi đây,
Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng.
1755. Ở đây tai vách mạch rừng,
Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi.
Kẻo khi sấm sét bất kì,
Con ong, cái kiến, kêu gì được oan!”
Nàng càng giọt ngọc như chan,
1760. Nỗi lòng luống những bàng hoàng niềm tây:
Phong trần kiếp đã chịu đầy,
Lầm than, lại có thứ này bằng hai.
Phận sao bạc chẳng vừa thôi?
Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan!
1765. Đã đành túc trái tiền oan,
Cũng liều ngọc nát, hoa tàn mà chi!”
Những là nương náu qua thì,
Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia.
Mẹ con trò chuyện lân la,
1770. Phu nhân mới gọi nàng ra dạy lời:
”Tiểu thư, dưới trướng thiếu người,
Cho về bên ấy theo đòi lầu trang”.
Lĩnh lời, nàng mới theo sang,
Biết đâu địa ngục, thiên đàng là đâu!
1775. Sớm khuya khăn mặt, lược đầu,
Phận con hầu, giữ con hầu, dám sai!
Phải đêm êm ả chiều trời,
Trúc tơ, hỏi đến nghề chơi mọi ngày.
Lĩnh lời, nàng mới lựa dây,
1780. Nỉ non, thánh thót, dễ say lòng người.
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.
Cửa người, đày đọa chút thân,
Sớm ngơ ngẩn bóng, đêm năn nỉ lòng.
1785. Lâm Tri chút nghĩa đèo bồng,
Nước bèo để chữ “tương phùng” kiếp sau!
Bốn phương mây trắng một màu,
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.
Lần lần tháng trọn ngày qua,
1790. Nỗi gần, nào biết đường xa thế này?
Lâm Tri từ thuở uyên bay,
Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.
Mày ai trăng mới in ngần,
Phần thừa hương cũ bội phần xót xa!
1795. Sen tàn, cúc lại nở hoa,
Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân.
Tìm đâu cho thấy cố nhân?
Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương.
Chạnh niềm, nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa giãi giề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong, truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra, một bước, một dừng,
Trông xa, nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
”Phải chăng nắng quáng, đèn lòa,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai!
Chước đâu có chước lạ đời!
Người đâu mà lại có người tinh ma!
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở, chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao, nói làm sao, bây giờ”?
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy, dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
”Thương ôi! chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi, ta đã mắc tay ai rồi!”
Sợ quen, dám hở ra lời,
Không ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. “Mới về, có việc chi mà động dong?”
Sinh rằng: “Hiếu phục vừa xong,
Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên”.
Khen rằng: “Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu”.
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan, bắt nhặt, đến lời,
Bắt quì tận mặt, bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại, như ngây,
1840. Giọt dài, giọt ngắn, chén đầy, chén vơi.
Ngảnh đi, chợt nói, chợt cười,
Cáo say, chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: “Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn, thì ta có đòn”.
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay!
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chửa xong cuộc rượu, lại bày trò chơi.
Rằng: “Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe!”
Nàng đà tán hoán, tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn:
Bốn dây như khóc, như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!
1855. Cùng chung một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm!
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. “Cuộc vui, gảy khúc đoạn tràng ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi!”
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt, dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
”Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay”.
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng, càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài.
Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen, đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thúy, chia uyên,
Ai ra đường nấy, ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng, hết lời thị phi!
Nhẹ như bấc, nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên!
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu, sóng cả, có tuyền được vay?
Một mình âm ỉ đêm chày,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy, năm canh.
1885. Sớm trưa hầu hạ đài dinh,
Tiểu thư chạm mặt đè tình hỏi tra.
Lựa lời nàng mới thưa qua:
”Phải khi mình lại xót xa nỗi mình”.
Tiểu thư hỏi lại Thúc Sinh:
1890. “Cậy chàng tra lấy, thực tình cho nao!”
Sinh đà rát ruột như bào,
Nói ra chẳng tiện, trông vào chẳng đang!
Những e lại lụy đến nàng,
Đánh liều mới sẽ lựa đường hỏi tra.
1895. Cúi đầu quỳ trước sân hoa,
Thân cung nàng mới dâng qua một tờ.
Diện tiền trình với tiểu thơ,
Thoạt xem dường có ngẩn ngơ chút tình.
Liền tay trao lại Thúc Sinh,
1900. Rằng: “Tài nên trọng, mà tình nên thương!
Ví chăng có số giàu sang,
Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên!
Bể trần chìm nổi thuyền quyên,
Hữu tài, thương nỗi vô duyên lạ đời!”
1905. Sinh rằng: “Thật có như lời,
Hồng nhan bạc mệnh, một người nào vay!
Nghìn xưa âu cũng thế này,
Từ bi âu liệu bớt tay mới vừa.”
Tiểu thư rằng: “Ý trong tờ,
1910. Rắp đem mệnh bạc, xin nhờ cửa không.
Thôi thì thôi cũng chiều lòng,
Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra.
Sẵn Quan Âm các vườn ta,
Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa.
1915. Có cổ thụ, có sơn hồ,
Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh”.
Tàng tàng trời mới bình minh,
Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường.
Đưa nàng đến trước Phật đường,
1920. Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia.
Áo xanh đổi lấy cà sa,
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.
Sớm khuya sắm đủ dầu đèn,
Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà.
1925. Nàng từ lánh gót vườn hoa,
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.
Nhân duyên đâu lại còn mong,
Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thì thôi!
Phật tiền, thảm lấp, sầu vùi,
1930. Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.
Cho hay giọt nước cành dương,
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.
Nâu sồng từ trở màu thiền,
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu.
1935. Cửa thiền then nhặt lưới mau,
Nói lời trước mặt, rơi châu vắng người.
Gác kinh, viện sách, đôi nơi,
Trong gang tấc lại gấp mười quan san!
Những là ngậm thở nuốt than,
1940. Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà.
Thừa cơ Sinh mới lẻn ra,
Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng.
Sụt sùi giở nỗi đoạn tràng,
Giọt châu tầm tã đẫm tràng áo xanh:
1945. “Đã cam chịu bạc với tình,
Chúa xuân để tội một mình cho hoa!
Thấp cơ thua trí đàn bà,
Trông vào đau ruột, nói ra ngạt lời.
Vì ta cho lụy đến người,
1950. Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh!
Quản chi lên thác xuống ghềnh,
Cũng toan sống thác với tình cho xong.
Tông đường chút chửa cam lòng,
Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai.
1955. Thẹn mình đá nát, vàng phai,
Trăm thân dễ chuộc một lời được sao?”
Nàng rằng: “Chiếc bách sóng đào,
Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may!
Chút thân quằn quại vũng lầy,
1960. Sống thừa, còn tưởng đến rày nữa sao?
Cũng liều một giọt mưa rào,
Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay!
Trót vì cầm đã bén dây,
Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta.
1965. Liệu bài mở cửa cho ra,
Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu!”
Sinh rằng: “Riêng tưởng bấy lâu,
Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường?
Nữa chi giông tố phũ phàng,
1970. Thiệt riêng đó cũng lại càng cực đây.
Liệu mà xa chạy cao bay,
ái ân ta có ngần này mà thôi!
Bâu giờ kẻ ngược người xuôi,
Biết bao giờ lại nối lời nước non?
1975. Dẫu rằng sông cạn đá mòn,
Con tằm đến thác cũng còn vướng tơ!”
Cùng nhau kể lể sau xưa,
Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời…
Mặt trông, tay chẳng nỡ rời,
1980. Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa.
Nhẫn ngừng, nuốt tủi bước ra,
Tiểu thư đâu đã rẽ hoa bước vào.
Cười cười nói nói ngọt ngào,
Hỏi: “Chàng mới ở chốn nào lại chơi?”
1985. Dối quanh Sinh mới liệu lời:
”Tìm hoa quá bước, xem người viết kinh.”
Khen rằng: “Bút pháp đã tinh,
So vào với thiếp Lạn Đình nào thua!
Tiếc thay lưu lạc giang hồ,
1990. Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài!”
Thiền trà cạn chén hồng mai,
Thong dong nối gót thư trai cùng về.
Nàng càng e lệ ủ ê,
Rỉ tai, hỏi lại hoa tì trước sau.
1995. Hoa rằng: “Bà đã đến lâu,
Rón chân đứng nép độ đâu nữa giờ.
Rành rành kẽ tóc chân tơ,
Mấy lời nghe hết, đã dư tỏ tường.
Bao nhiêu đoạn khổ, tình thương,
2000. Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than.
Ngăn tôi đứng lại một bên,
Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.”
Nghe thôi kinh hãi xiết đâu:
”Đàn bà thế ấy thấy âu một người!
2005. Ấy mới gan, ấy mới tài,
Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời!
Người đâu sâu sắc nước đời,
Mà chàng Thúc phải ra người bó tay!
Thực tang, bắt được dường này,
2010. Máu ghen ai cũng chau mày nghiến răng.
Thế mà im chẳng đãi đằng,
Chào mời vui vẻ, nói năng dịu dàng!
Giận dầu ra dạ thế thường,
Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu!
2015. Thân ta, ta phải lo âu,
Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này!
Ví chăng chắp cánh cao bay,
Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa!
Phận bèo bao quản nước sa,
2020. Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
Chỉn e quê khách một mình,
Tay không chưa dễ tìm vành ấm no!”
Nghĩ đi, nghĩ lại quanh co,
Phật tiền, sẵn có mọi đồ kim ngân.
2025. Bên mình giắt để hộ thân,
Lần nghe canh đã một phần trống ba.
Cất mình qua ngọn tường hoa,
Lần đường theo bóng trăng tà về tây.
Mịt mù dặm cát đồi cây,
2030. Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương.
Canh khuya, thân gái, dặm trường,
Phần e đường xá, phần thương dãi dầu!
Trời đông vừa rạng ngàn dâu,
Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà!
2035. Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
Rành rành Chiêu ẩn am ba chữ bài.
Xăm xăm gõ mái cửa ngoài,
Trụ trì nghe tiếng, rước mời vào trong.
Thấy màu ăn mặc nâu sồng,
2040. Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương.
Gạn gùng ngành ngọn cho tường,
Lạ lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh:
”Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh,
Qui sư, qui Phật, tu hành bấy lâu.
2045. Bản sư rồi cũng đến sau,
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.”
Rày vâng diện hiến rành rành,
Chuông vàng, khánh bạc, bên mình giở ra.
Xem qua sư mới dạy qua:
2050. “Phải ni Hằng Thủy là ta hậu tình.
Chỉ e đường sá một mình,
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày.”
Gửi thân được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi, tháng ngày thong dong.
2055. Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.
Sớm khuya lá bối, phướn mây,
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương.
Thấy nàng thông tuệ khác thường,
2060. Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.
Cửa thuyền vừa tiết cuối xuân,
Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời.
Gió quang mây tạnh thảnh thơi,
Có người đàn việt lên chơi cửa già.
2065. Giở đồ chuông khánh xem qua,
Khen rằng: “Khéo giống của nhà Hoạn nương!”
Giác Duyên thực ý lo lường,
Đêm thanh, mới hỏi lại nàng trước sau.
Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu,
2070. Sự mình, nàng mới gót đầu bày ngay:
“Bây giờ, sự đã dường này,
Phận hèn dù rủi, dù may, tại người!”
Giác Duyên nghe nói rụng rời,
Nửa thương, nửa sợ, bồi hồi chẳng xong.
2075. Rỉ tai nàng, mới giãi lòng:
“Ở đây cửa Phật là không hẹp gì;
E chăng những sự bất kỳ,
Để nàng cho đến thế thì cũng thương!
Lánh xa, trước liệu tìm đường,
2080. Ngồi chờ nước đến nên đường còn quê!”
Có nhà họ Bạc bên kia,
Am mây quen lối đi về dầu hương.
Nhắn sang, dặn hết mọi đường,
Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân.
2085. Những mừng được chốn an thân,
Vội vàng nào kịp tính gần, tính xa.
Nào ngờ cũng tổ bợm già,
Bạc Bà học với Tú Bà đồng môn!
Thấy nàng mặt phấn, tươi son,
2090. Mừng thầm được mối bán buôn có lời.
Hư không đặt để nên lời,
Nàng đà nhớn nhác, rụng rời lắm phen.
Mụ càng xua đuổi cho liền,
Lấy lời hung hiểm, ép duyên Châu Trần.
2095. Rằng: “Nàng muôn dặm một thân,
Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa.
Khéo oan gia, của phá gia,
Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây!
Kíp toan kiếm chốn xe dây,
2100. Không dưng chưa dễ mà bay đường trời!
Nơi gần, thì chẳng tiện nơi,
Nơi xa, thì chẳng có người nào xa.
Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà,
Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai.
2105. Cửa hàng buôn bán châu Thai,
Thực thà có một, đơn sai chẳng hề.
Thế nào nàng cũng phải nghe,
Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai.
Bấy giờ ai lại biết ai,
2110. Dầu lòng bể rộng, sông dài thênh thênh.
Nàng dù quyết chẳng thuận tình,
Trái lời nẻo trước, lụy mình đến sau.”
Nàng càng mặt ủ mày chau,
Càng nghe mụ nói, càng đau như dần.
2115. Nghĩ mình túng đất sẩy chân,
Thế cùng nàng mới xa gần thở than:
“Thiếp như con én lạc đàn,
Phải cung, rày đã sợ làn cây cong!
Cùng đường dù tính chữ tòng,
2120. Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao?
Nữa khi muôn một thế nào,
Bán hùm, buôn sói, chắc vào lưng đâu?
Dù ai lòng có sở cầu,
Tâm minh xin quyết với nhau một lời!
2125. Chứng minh có đất, có trời,
Bấy giờ vượt biển, ra khơi quản gì?”

N.D

_______
Ghi chú:

1715. Hoàng Lương: kê vàng. Xưa Lư Sinh đời Đường đi thi gặp ông già họ Lã cho mượn cái gối nằm ngủ. Chàng mơ thấy mình thi đỗ, làm quan vinh hoa phú quý hơn 20 năm. Lúc tỉnh giấc thì nồi kê của nhà hàng nấu chưa chín. Người sau bèn dùng hai chữ hoàng lương để chỉ giấc mơ.

Hồn mai: xưa có người gặp cô gái đẹp trong rừng, cùng uống rượu, sáng dậy thấy mình nằm dưới gốc cây mai. Ở đây tác giả dùng chữ hồn mai để cho câu văn thêm nhã, chứ không có ý dùng điển.

1719. Ả hoàn: tên gọi chung các đầy tớ gái trẻ tuổi.

1722. Thiên quang trủng tể: Thiên quang là loại quan đứng đầu sáu loại quan do nhà Chu đặt ra. Trủng tể tức là chức tể tướng.

1724. Thất bảo: bảy sản vật quý như vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, san hô, trân châu. Ở đây chỉ cái giường có khảm các vật quý.

1731. Mèo mả gà đồng: mèo hoang sống ở mồ mả; gà hoang sống ở ngoài đồng, người ta thường dùng để ví với hạng người lông bông, giang hồ, không có chỗ nhất định.

1735. Gia pháp: phép tắc trong nhà. Gia đình phong kiến đời xưa thường đặt gia pháp thành ra một thứ phép luật riêng để trừng phạt gia nhân và tôi tớ.

1739. Trúc côn: gậy tre.

1741. Đào lý: cây đào, cây lý, thường dùng để chỉ phụ nữ.

1744. Phiên thị tỳ: thị tỳ ở nhà quyền quý rất nhiều, chia ra từng ban và từng phiên mà hầu hạ, nên gọi là phiên thị tỳ.

1745. Thanh ly: áo xanh. Đầy tớ gái các nhà giàu sang đời xưa đều mặc áo xanh, nên gọi là thanh y.

1747. Quản gia: trong gia đình quan lại phong kiến đời xưa thường dùng những người đàn bà đứng tuổi trông coi việc nhà và cai quản số hầu gái, gọi là quản gia.

1750. Phương tiện: Ở đây có nghĩa là đối đãi, xử trí mọi việc.
Hiếu sinh: qúy trọng sinh mệnh, ý nói tránh cho người ta con đường khổ sở chết chóc.

1752. Liễu và bồ là hai giống cây mềm yếu thường được dùng để chỉ phụ nữ.

1753. Oan nghiệp: tiền oan, nghiệp chướng, có ý nói có oan thù và tội lỗi từ thời trước để lại.

1755. Tai vách mạch rừng: do câu thành ngữ: Rừng có mạch vách có tai.

1761. Phong trần: nghĩa đen là gió bụi, thường được dùng để chỉ sự khổ sở mà người đời phải chịu.

1765. Túc trái tiền oan: nợ nần, oán thù từ kiếp trước để lại.

1768. Ninh gia: thăm nhà.

1774. Địa ngục: ngục tù ở dưới đất. Thiên đang hay thiên đường: cõi vĩnh viễn sung sướng ở trên trời. Theo giáo lý đạo Phật thì những người độc ác sau khi chết phải xuống địa ngục để chịu tội, còn hồn những người lương thiện thì được lên thiên đường. Ở đây ý nói nơi khổ ải và nơi sung sướng.

1778. Trúc tơ: Do chữ ti trúc: ti là tơ để làm dây đàn, trúc là tre để làm ống sáo. Hai chữ này thường được dùng để chỉ các thứ âm nhạc nói chung.

1786. Tương phùng: cùng gặp nhau. Ý nói: việc gặp gỡ lại Thúc Sinh để nối lại tình duyên thì hoạ chăng đợi ở kiếp sau..

1782. Ý nói: Thuý Kiều trông ra bốn bể thì thấy đâu cũng man mác một màu mây trắng mà không thấy quê nhà.

1788. Cố quốc: nguyên nghĩa là nước cũ, sau cũng dùng như chữ cố hương (quê cũ).

1791. Uyên: do chữ uyên ương, giống chim ở với nhau từng đôi, nên người ta thường dùng để chỉ vợ chồng. Uyên bay: ý nói Thuý Kiều không còn nữa (con chim uyên đã bay mất).

1793. Trăng mới: trăng non đầu tháng. Câu này ý nói: Thúc Sinh trông thấy mặt trăng lưỡi liềm đầu tháng giống như lông mày người gái đẹp mà tưởng nhớ đến Thúy Kiều.

1794. Câu này đại ý nói: Thuý Kiều không còn nữa. Thúc sinh trông thấy phấn hương của nàng còn sót lại đau đớn xót xa.

1796. Hai câu tả thời gian trôi đi, hết hạ, sang thu, đông qua, xuân tới, nhưng cũng ngụ ý tả tình cảnh vô vị, buồn bã của Thúc Sinh khi đã mất Thúy Kiều: Ngày lại ngày nỗi sầu muộn dài dằng dặc.

1797. Cố nhân: Người quen biết cũ. ở đây chỉ Thuý Kiều.

1798. Cả câu này ý nói Thúc Sinh tự an ủi đó là do số kiếp, vận mệnh để quên dần nỗi đau đớn nhớ thương.

1799. Gia hương: nhà và làng, tức quê hương, chỉ quê hương của Thúc Sinh và cũng là nơi Hoạn Thư đang ở.

1803. Nhà hương: tức là hương khuê: phòng hương, phòng ở của phụ nữ.

Bức là: bức màn làm bằng là.

1816. Thành ngữ: giết người không dao. Ở đây chỉ mưu mẹo rất độc ác của Hoạn Thư để đày đọa Thúc Sinh và Thúy Kiều.

1823. Phách lạc hồn xiêu: do chữ hồn phi phách tán, ý nói sợ hãi một cách ghê gớm.

1830. Động dong: biến đổi sắc mặt, ý nói động lòng.

1831. Hiếu phục: tang trở cha mẹ. Ở đây chỉ Thúc Sinh vừa hết tang mẹ.

1832. Trắc Dĩ: Kinh thi có câu Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mẫu hề (lên núi Dĩ trông ngóng mẹ). Người sau bèn dùng hai chữ trắc Dĩ để nói thương nhớ mẹ.

Chung thiên: suốt đời, ý nói không bao giờ quên.

1833. Hiếu tử: người con có hiếu với cha mẹ.

1834. Giải phiền: làm cho khuây khoả sự phiền não.

1835. Thù: chén rượu do chủ nhà rót mời khách.

Tạc: chén rượu do khách rót cho người chủ để đáp lại. Ở đây nói vợ chồng Thúc Sinh uống rượu và mời mọc nhau.

1836. Trì hồ: bưng bầu rượu. Ý nói bắt Kiều đứng hầu một bên để rót rượu cho hai vợ chồng Thúc Sinh uống.

1846. Bồ hòn: giống quả rất đắng, nên người ta thường dùng câu Ngậm bồ hòn để ám chỉ người có việc buồn khổ mà không nói ra được. Ở đây ý nói: chén rượu Kiều đưa mời chàng thấy đắng như bồ hòn, nhưng vì sợ Kiều bị liên luỵ phải uống hết ngay.

1856. Người ngoài là người ngoài cuộc, chỉ Hoạn Thư, người trong là người trong cuộc chỉ Thúc Sinh và Kiều.

1865. Giọt rồng: có nghĩa là thời giờ, thời khắc.

1866. Cam tậm: thoả lòng, hả dạ.

1871. Loan phòng: phòng nằm của đôi vợ chồng;

1875. Thuý: chim chả. Uyên: chim uyên ương. Ở đây chỉ việc Hoạn Thư dùng mưu chia rẽ đôi lứa Thúc Sinh và Thuý Kiều.

1885. Đài dinh: đài các, dinh thự, chỉ chỗ ở của bọn quyền quý. Ở đây mượn để chỉ nhà ở của Thúc Sinh và Hoạn thư.

1896. Thân cung: cung khai, khai trình.

1897. Diện tiền: trước mặt.

1910. Cửa không: do chữ không môn. Vì đạo Phật cho mọi vật trên thế gian đều là "không" nên người ta gọi đạo Phật là "Không môn".

1913. Quan âm các: cái chùa thờ Phật Quan Thế Âm Bồ tát. Đây là chùa riêng của nhà Hoạn Thư.

1915. Cổ thụ: cây lâu năm.

Sơn hồ: núi giả và hồ đào ra để làm cảnh.

1917. Tàng tàng: tang tảng sáng.

1918. Ngũ cúng: năm vật cúng Phật, tức hương, hoa, đăng, trà, quả.

1920. Tam quy: ba lễ "qui y" tức quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, nghĩa là đem cả tâm thân mà theo đạo Phật.

Ngũ giới: năm điều răn, tức là răn sát sinh, răn ăn trộm, răn tà dâm, răn nói càn, răn uống rượu.

Xuất gia: ra khỏi nhà tức đi tu.

1921. Áo xanh: thanh y, áo các hầu gái mặc.

Cà sa: áo nhà sư mặc.

1922. Pháp danh: Tên đặt theo tập tục tôn giáo. Trạc Tuyền là pháp danh do Hoạn Thư đặt cho Kiều.

1924. Xuân, thu: tên hai người đầy tớ gái do Hoạn Thư sai đến Quan Âm các ở với Kiều để giúp việc hương đèn.

1926. Rừng tía: do chữ tư trúc lâm, chỗ ở của Phật Quan Âm bồ tát.

Bụi hồng: do chữ hồng trần, tức cõi trần tục, cõi đời.

1927. Nhân duyên: duyên vợ chồng. Ở đây chỉ duyên phận giữa Kiều và Thúc Sinh.

1930. Thủ tự: chữ viết tay.

Tâm hương: hương lòng. Nén hương dâng lên do tấm lòng thành kính.

1931. Giọt nước cành dương: Do chữ dương chi thuỷ. Theo sách Phật thì Phật Quan Âm có cành dương liễu và bình nước cam lộ, khi muốn cứu ai thì lấy cành dương liễu dúng nước trong bình mà rảy vào người ấy. Ở đây giọt nước cành dương dùng để chỉ phép màu nhiệm của Phật.

1932. Lửa lòng: do chữ tâm hoả, chỉ mọi thứ dục vòng do lòng người sinh ra.

Trần duyên: duyên nợ ở cõi trần.

1937. Gác kinh: cái gác viết kinh, chỉ chỗ ở của Kiều.

Viện sách: tức thư viện, phòng đọc sách, chỉ chỗ ở của Thúc Sinh.

1940. Vấn an: hỏi thăm sức khoẻ.

1944. Áo xanh: Do chữ thanh sam, chỉ thứ áo xanh mà các nhà nho sĩ xưa thường mặc.

1950. Cát lầm ngọc trắng: ý nói Kiều như "ngọc trắng" mà bị cát vùi dập.

1953. Tông đường: nhà tổ tông. Ở đây dùng với nghĩa: "nối dõi tông đường". Ý nói Thúc Sinh nghĩ mình chưa có con trai để nối dõi tông đường.

1957. Dông tố: cơn mưa to gió lớn. Ở đây chỉ sự giận giữ ghê gớm của Hoạn Thư.

1987. Bút pháp: phép viết chữ.

1988. Thiếp Lan - đình: do chữ Lan-đình thiếp là bản bút tích rất tốt của nhà văn Vương Hy Chi, đời Tấn.

1991. Thiền trà: nước trà của nhà chùa.

Hồng mai: gỗ cây mai già dùng để nấu làm nước uống, sắc nước đỏ hồng, nên gọi là hồng mai.

1992. Thư trai: nhà đọc sách, cũng như thư viện.

2008. Bó tay: chữ hán là thúc thủ. Đặt hai chữ "bó tay" sau chữ "Thúc" là một cách chơi chữ của tác giả.

2011. Đãi đằng: Ở đây lại có nghĩa là nói năng, làm ầm ĩ lên.

2014. Cổ nhân có câu: Nộ giả thường tình, tiếu giả bất khả trắc, nghĩa là: Giận dữ là thói thường, cười thì không thể lường được. Câu này dùng ý ấy.

2018. Câu này ý nói: bị giam giữ ở đây lâu, thế nào cũng có ngày mình bị hành hạ điêu đứng hơn, hoặc bị trừ khử.

2020. Câu này ý nói: Thuý Kiều nghĩ thân phận của mình như cánh bèo trên mặt nước, ở đâu thì cũng là lênh đênh cả, không còn quản gì.

2024. Kim ngân: vàng bạc, chỉ các đồ thờ như chuông, khánh đúc bằng vàng bạc.

2036. Chiêu ấn: tên ngôi chùa, nghĩa là chiêu nạp những người ẩn dật.

2038. Trụ trì: cư trú và chủ trì mọi công việc trong một ngôi chùa.

2043. Tiểu thiền: cũng như tiểu tăng, là người đi tu nhỏ mọn (Lời Kiều tự khiêm).

2044. Qui sư, qui Phật: theo thầy, theo Phật, cũng như nói "qui tăng, qui phật".

2045. Bản sư: vị sư thầy học mình.

2046. Pháp bảo: chỉ các đồ thờ cúng quý giá.

Sư huynh: vị sư đàn anh, lời xưng hô giữa các vị sư với nhau.

2047. Diện kiến: đem dâng ngày trước mặt.

2050. Hằng Thuỷ: tên hiệu một vị sư nữ khác mà Kiều mạo xưng là thầy học mình.

Hậu tình: tình nghĩa đối xử hậu hĩ, thân mật.

2053. Am mây: do chữ Vân phòng, chỗ ở nhà sư ở.

2059. Thông tuệ: thông minh, sáng suốt;

2062. Vẻ ngân: ánh bạc, ánh trăng sáng như bạc.

2064. Đàn việt: người đứng ra bố thí, thường thường để chỉ người có công với nhà chùa, hay người đi vãn cảnh chùa.

Cửu già: tiếng Phạn gọi chùa là già lam.

Ở đây ý nói ngồi chờ nước đến chân rồi mới nhảy là khờ dại.

2088. Đồng môn: cùng học một thầy, một trường, ý nói Bạc Hà cũng một phường chủ lầu xanh như Tú Bà.

2096. Tục ngữ: Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Ở đây mượn ý ấy để nói Thuý Kiều đã mang tiếng trốn chúa và ăn cắp, thế nào cũng bị người ta dị nghị.

2097. Oan gia: Bạc Bà bịa đặt ra mà nói Kiều là một oan gia kiếp trước vào nhà mình để chực gây tai hoạ cho mình.

Phá gia: phá nhà.

2099. Xe dây: cũng như xe tơ, nghĩa là lấy chồng.

2108. Thành thân: làm lễ hợp hôn, thành vợ chồng.

Châu thai: chỗ Bạc Hạnh buôn bán, thuộc tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).

2118. Cổ ngữ: Thương cung chi điểu, kiến khúc mộc nhi cao phi, nghĩa là con chim đã bị thương vì cung thì thấy cái cong cũng sợ mà bay cao.

2123. Sở cầu: cầu đến, hỏi đến, ý nói muốn cưới làm vợ.

2124. Tân minh: lấy lòng thực mà thề với nhau.

(Theo bản Truyện Kiều – NXB Giáo dục 1984)

Truyện Kiều - Nguyễn Du (Phần thứ hai, từ câu 1227 đến câu 1714)

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều cũng là đỉnh cao thơ ca cổ điển của dân tộc. Vì vậy, Truyện Kiều luôn được nhân dân ta yêu mến…
Kieuhoc.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
alt

PHẦN THỨ HAI

GIA BIẾN VÀ LƯU LẠC

(Từ câu 1227 đến câu 1714)


Nỗi lòng Thúy Kiều khi ở lầu xanh thương nhớ cha mẹ và người yêu,
đau xót nhân phẩm bị trà đạp.


Lầu xanh, mới rủ trướng đào,
Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người.
Biết bao bướm lả ong lơi,
1230. Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
1235. Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?
Mặt người mưa Sở, mây Tần,
1240. Những mình nào biết có xuân là gì?
Đôi phen gió tựa, hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!
1245. Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.
Vui là vui gượng kẻo mà,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Thờ ơ gió trúc mưa mai,
1250. Ngẩn ngơ trăm nỗi, giùi mài một thân.
Ôm lòng đòi đoạn xa gần,
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!
Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.
1255. Dặm ngàn nước thẳm, non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!
Sân hòe đôi chút thơ ngây
Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình?
Nhớ lời nguyện ước ba sinh,
1260. Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?
Khi về hỏi liễu Chương Đài,
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay.
Tình sâu, mong trả nghĩa dày,
Hoa kia đã chắp cành này cho chưa ?
1265. Mối tình đòi đoạn vò tơ,
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài.
Song sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
Lần lần thỏ bạc ác vàng,
1270. Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn!
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân!
Đã đày vào kiếp phong trần,
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi!

 

Thúy Kiều được Thúc Sinh cứu ra khỏi lầu xanh và lấy làm vợ lẽ.
Hoạn Thư, vợ cả của Thúc Sinh, hành hạ và sỉ nhục Thúy Kiều.


1275. Khách du bỗng có một người,
Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương.
Vốn người huyện Tích, châu Thường,
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri.
Hoa khôi mộ tiếng Kiều Nhi,
1280. Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào.
Trướng tô giáp mặt hoa đào,
Vẻ nào chẳng mặn, nét nào chăng ưa?
Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió, càng mưa, càng nồng!
1285. Nguyệt hoa, hoa nguyệt, não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng!
Lạ gì thanh khí lẽ hằng,
Một dây một buộc ai giằng cho ra.
Sớm đào tối mận lân la,
1290. Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng.
Dịp đâu may mắn lạ dường,
Lại vừa gặp khoảng xuân đường lại quê.
Sinh càng một tỉnh mười mê,
Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân.
1295. Khi gió gác, khi trăng sân,
Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ .
Khi hương sớm, khi trà trưa,
Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn.
Miệt mài trong cuộc truy hoan,
1300. Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình.
Lạ cho cái sóng khuynh thành,
Làm cho đổ quán, xiêu đình như chơi.
Thúc Sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổ một trận cười như không!
1305. Mụ càng tô lục chuốt hồng,
Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê.
Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.
Buồng the phải buổi thong dong,
1310. Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa.
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên!
Sinh càng tỏ nét càng khen,
Ngụ tình tay thảo một thiên luật Đường.
1315. Nàng rằng: “Vâng biết lòng chàng,
Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.
Hay hèn lẽ cũng nối điêu,
Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.
Lòng còn gửi áng mây vàng,
1320. Họa vần, xin hãy chịu chàng hôm nay”.
Rằng: “Sao nói lạ lùng thay!
Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra?”
Nàng càng ủ đột thu ba,
Đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh:
1325. “Thiếp như hoa đã lìa cành,
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi.
Chúa xuân đành đã có nơi,
Vắn ngày thôi chớ dài lời làm chi!”
Sinh rằng: “Từ thuở tương tri,
1330. Tấm riêng, riêng những nặng vì nước non.
Trăm năm tính cuộc vuông tròn,
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”.
Nàng rằng: “Muôn đội ơn lòng,
Chút e bên thú, bên tòng dễ đâu.
1335. Bình Khang nấn ná bấy lâu,
Yêu hoa, yêu được một màu điểm trang.
Rồi ra lạt phấn phai hương,
Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng?
Vả trong thầm quế, cung trăng,
1340. Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong.
Bấy lâu khăng khít dải đồng,
Thêm người thì cũng chia lòng riêng tây.
Vẻ chi chút phận bèo mây,
Làm cho bể ái khi đầy khi vơi.
1345. Trăm điều ngang ngửa vì tôi,
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho?
Như chàng có vững tay co,
Mười phần cũng đắp điếm cho một vài.
Thế trong dù lớn hơn ngoài,
1350. Trước hàm sư tử gửi người đằng la.
Cúi đầu luồn xuống mái nhà,
Giấm chua lại tội băng ba lửa nồng.
Ở trên còn có nhà thông,
Lượng trên trông xuống biết lòng có thương?
1355. Sá chi liễu ngõ, hoa tường?
Lầu xanh, lại bỏ ra phường lầu xanh!
Lại càng dơ dáng dại hình,
Đành thân phận thiếp, ngại danh giá chàng.
Thương sao cho vẹn thì thương.
1360. Tính sao cho vẹn mọi đường xin vâng”.
Sinh rằng: “Hay nói đè chừng,
Lòng đây, lòng đấy, chưa từng hay sao?
Đường xa chớ ngại Ngô, Lào,
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta .
1365. Đã gần chi có điều xa,
Đá vàng đã quyết, phong ba cũng liều”.
Cùng nhau căn vặn đến điều,
Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời.
Nỉ non đêm ngắn tình dài,
1370. Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương.
Mượn điều trúc viện thừa lương,
Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.
Chiến, hòa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.
1375. Bắn tin đến mặt Tú Bà,
Thua cơ mụ cũng cầu hòa, dám sao!
Rõ ràng của dẫn, tay trao,
Hoàn lương một thiếp, thân vào cửa công.
Công tư đôi lẽ đều xong,
1380. Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai.
Một nhà sum họp trúc mai,
Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông.
Hương càng đượm, lửa càng nồng,
Càng sôi vẻ ngọc, càng lồng màu sen.
1385. Nửa năm hơi tiếng vừa quen,
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.
Giậu thu vừa nảy giò sương,
Gối yên đã thấy xuân đường đến nơi.
Phong lôi, nổi trận bời bời,
1390. Nặng lòng e ấp, tính bài phân chia.
Quyết ngay biện bạch một bề,
Dạy cho má phấn lại về lầu xanh!
Thấy lời nghiêm huấn rành rành,
Đánh liều Sinh mới lấy tình nài kêu.
1395. Rằng: “Con biết tội đã nhiều,
Dẫu rằng sấm sét, búa rìu cũng cam.
Trót vì tay đã nhúng chàm,
Dại rồi còn biết khôn làm sao đây?
Cùng nhau vả tiếng một ngày,
1400. Ôm cầm, ai nỡ dứt dây cho đành!
Lượng trên quyết chẳng thương tình,
Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi!”
Thấy lời sắt đá tri tri,
Sốt gan ông mới cáo quì cửa công.
1405. Đất bằng nổi sóng đùng đùng,
Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra.
Cùng nhau theo gót sai nha,
Song song vào trước sân hoa lạy quỳ.
Trông lên mặt sắt đen sì,
1410. Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời:
”Gã kia dại nết chơi bời,
Mà con người thế là người đong đưa.
Tuồng chi hoa thải, hương thừa,
Mượn màu son phấn đánh lừa con đen!
1415. Suy trong tình trạng nguyên đơn,
Bề nào, thì cũng chưa yên bề nào.
Phép công chiếu án luận vào,
Có hai đường ấy muốn sao mặc mình:
Một là cứ phép gia hình,
1420. Một là lại cứ lầu xanh phó về!”
Nàng rằng: “Đã quyết một bề,
Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần!
Đục, trong thân cũng là thân,
Yếu thơ, vâng chịu trước sân lôi đình”.
1425. Dạy rằng: “Cứ phép gia hình!”
Ba cây chập lại một cành mẫu đơn.
Phận đành chi dám kêu oan,
Đào hoen quẹn má, liễu tan tác mày.
Một sân lầm cát đã đầy,
1430. Gương lờ nước thủy, mai gầy vóc sương.
Nghĩ tình chàng Thúc mà thương,
Nẻo xa trông thấy, lòng càng xót xa.
Khóc rằng: “Oan khốc vì ta,
Có nghe lời trước, chẳng đà lụy sau,
1435. Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu,
Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai?”
Phủ đường nghe thoảng vào tai,
Động lòng, lại gạn đến lời riêng tây.
Sụt sùi chàng mới thưa ngay,
1440. Đầu đuôi kể lại sự ngày cầu thân:
”Nàng đà tính hết xa gần,
Từ xưa nàng đã biết thân có rày!
Tại tôi hứng lấy một tay,
Để nàng cho đến nỗi này vì tôi!”
1445. Nghe lời nói, cũng thương lời,
Dẹp uy, mới dạy cho bài giải vi.
Rằng: “Như hẳn có thế thì
Trăng hoa song cũng thị phi biết điều!”
Sinh rằng: “Chút phận bọt bèo,
1450. Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên.
Cười rằng: “Đã thế thì nên,
Mộc già, hãy thử một thiên trình nghề”.
Nàng vâng cất bút tay đề,
Tiên hoa trình trước án phê, xem tường.
1455. Khen rằng: “Giá lợt Thịnh Đường
Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân!
Thật là tài tử giai nhân,
Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn!
Thôi đừng rước dữ, cưu hờn,
1460. Làm chi lỡ nhịp cho đòn ngang cung.
Đã đưa đến trước cửa công,
Ngoài thì là lý, song trong là tình.
Dâu con trong đạo gia đình,
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong”.
1465. Kíp truyền sắm sửa lễ công,
Kiệu hoa lướt gió, đuốc hồng điểm sao.
Bày hàng cổ xúy xôn xao,
Song song đưa tới trướng đào sánh đôi.
Thương vì hạnh, trọng vì tài,

1470. Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba.
Huệ lan sực nức một nhà,
Từng cay đắng, lại mặn mà hơn xưa.
Mảng vui rượu sớm cờ trưa,
Đào đà phai thắm, sen vừa nẩy xanh.
1475. Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh,
E tình nàng mới bày tình riêng chung:
”Phận bồ từ vẹn chữ tòng,
Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên.
Tin nhà ngày một vắng tin,
1480. Mặn tình cát lũy, lạt tình tào khang.
Nghĩ ra thật cũng nên đường,
Tăm hơi ai dễ giữ giàng cho ta?
Trộm nghe kẻ lớn trong nhà,
Ở vào khuôn phép, nói ra mối giường.
1485. E thay những dạ phi thường,
Dễ dò rốn bể, khôn lường đáy sông!
Mà ta suốt một năm ròng,
Thế nào cũng chẳng giấu xong được nào.
Bấy chầy chưa tỏ tiêu hao,
1490. Hoặc là trong có làm sao chăng là?
Xin chàng kíp liệu lại nhà,
Trước người đẹp ý, sau ta biết tình.
Đêm ngày giữ mức giấu quanh,
Rày lần, mai lữa, như hình chưa thông!”
1495. Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang.
Rạng ra gửi đến xuân đường,
Thúc Ông cũng vội giục chàng ninh gia.
Tiễn đưa một chén quan hà,
1500. Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.
Sông Tần một dải xanh xanh,
Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan.
Cầm tay dài ngắn thở than,
Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời.
1505. Nàng rằng: “Non nước xa khơi,
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
Dễ lòa yếm thắm, trôn kim,
Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng!
Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
1510. Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.
Dù khi sóng gió bất tình,
Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
Hơn điều giấu ngược, giấu xuôi.
Lại mang những việc tày trời đến sau.
1515. Thương nhau xin nhớ lời nhau,
Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy.
Chén đưa nhớ buổi hôm nay,
Chén mừng xin đợi ngày này năm sau”.
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
1520. Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.
Dặm hồng bụi cuốn chinh an,
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
1525. Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.
Kể chi những nỗi dọc đường,
Buồn trong, này nỗi chủ trương ở nhà.
Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
1530. Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư.
Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa,
Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày.
Ở ăn thì nết cũng hay,
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.
1535. Từ nghe vườn mới thêm hoa,
Miệng người đã lắm, tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập, càng nồng,
Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa:
”Ví bằng thú thật cùng ta,
1540. Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Hay chi mà rước tiếng ghen vào mình?
Lại còn bưng bít giấu quanh,
Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!
1545. Tính rằng cách mặt khuất lời,
Giấu ta, ta cũng liệu bài giấu cho!
Lo gì việc ấy mà lo!
Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?
Làm cho nhìn chẳng được nhau,
1550. Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên!
Làm cho trông thấy nhãn tiền,
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay”.
Nỗi lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.
1555. Tuần sau bỗng thấy hai người,
Mách tin ý cũng liệu bài tâng công.
Tiểu thư nổi giận đùng đùng:
”Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi!
Chồng tao nào phải như ai,
1560. Điều này hẳn miệng những người thị phi”.
Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng.
Trong ngoài kín mít như bưng,
Nào ai còn dám nói năng một lời!
1565. Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,
Ra vào một mực nói cười như không.
Đêm ngày lòng những dặn lòng,
Sinh đà về đến lầu hồng, xuống yên.
Lời tan hợp nỗi hàn huyên,
1570. Chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng.
Tẩy trần vui chén thong dong,
Nỗi lòng, ai ở trong lòng mà ra?
Chàng về xem ý tứ nhà,
Sự mình cũng rắp lân la giãi bày.
1575. Mấy phen cười nói tỉnh say,
Tóc tơ bất động mảy may sự tình.
Nghĩ đà bưng kín miệng bình,
Nào ai có khảo mà mình đã xưng?
Những là e ấp dùng dằng,
1580. Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.
Có khi vui chuyện mua cười,
Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu.
Rằng: “Trong ngọc đá vàng thau,
Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
1585. Khen cho những chuyện dông dài,
Bướm ong lại đặt những lời nọ kia!
Thiếp dù vụng, chẳng hay suy,
Đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười!”
Thấy lời thủng thỉnh như chơi,
1590. Thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đòn.
Những là cười phấn, cợt son,
Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai.
Thú quê thuần hức bén mùi,
Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.
1595. Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
Một màu quan tái, mấy mùa gió trăng.
Tình riêng chưa dám rỉ răng,
Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:
”Cách năm, mây bạc xa xa,
1600. Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn”.
Được lời như cởi tấc son,
Vó câu thẳng ruổi, nước non quê người.
Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.
1605. Roi câu vừa gióng dặm trường,
Xe hương, nàng cũng thuận đường quy ninh.
Thưa nhà huyên hết mọi tình,
Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng: “Ngứa ghẻ hờn ghen,
1610. Xấu chàng mà có ai khen chi mình!
Vậy nên ngảnh mặt làm thinh,
Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.
Lâm Tri đường bộ tháng chầy,
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần.
1615. Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
Hãy đem dây xích buộc chân nàng về.
Làm cho cho mệt, cho mê,
Làm cho đau đớn ê chề cho coi!
Trước cho bõ ghét những người,
1620. Sau cho để một trò cười về sau”.
Phu nhân khen chước rất mầu,
Chiều con, mới dạy mặc dầu ra tay.
Sửa sang buồm gió, lèo mây,
Khuyển, Ưng lại chọn một bầy côn quang.
1625. Dặn dò hết các mọi đường,
Thuận phong một lá vượt sang bến Tề.
Nàng từ chiếc bóng song the,
Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu.
Bóng đâu đã xế ngang đầu,
1630. Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi?
Tóc thề đã chấm ngang vai,
Nào lời non nước, nào lời sắt son?
Sắn bìm chút phận cỏn con,
Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?
1635. Thân sao nhiều nỗi bất bằng?
Liều như cung Quảng, ả Hằng nghĩ nao?
Đêm thu gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.
Nén hương đến trước Phật đài,
1640. Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân…
Dưới hoa dậy lũ ác nhân,
Ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra!
Đầy sân gươm tuốt sáng lòa,
Thất kinh, nàng chửa biết là làm sao.
1645. Thuốc mê đâu đã tưới vào,
Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì!
Vực ngay lên ngựa tức thì,
Phòng đào, viện sách, bốn bề lửa dong.
Sẵn thây vô chủ bên sông,
1650. Đem vào để đó, lộn sòng ai hay?
Tôi đòi phách lạc, hồn bay,
Pha càn bụi cỏ, gốc cây ẩn mình.
Thúc Ông nhà cũng gần quanh,
Chợt trông ngọn lửa, thất kinh rụng rời.
1655. Tớ thầy chạy thẳng đến nơi,
Tơi bời tưới lửa, tìm người lao xao.
Gió cao, ngọn lửa càng cao,
Tôi đòi tìm đủ, nàng nào thấy đâu!
Hớt hơ hớt hải nhìn nhau,
1660. Giếng sâu, bụi rậm trước sau tìm quàng.
Chạy vào chốn cũ phòng hương,
Trong tro thấy một đống xương cháy tàn.
Tình ngay, ai biết mưu gian,
Hẳn nàng thôi lại còn bàn rằng ai!
1665. Thúc Ông sùi sụt ngắn dài,
Nghĩ con vắng vẻ, thương người nết na.
Di hài nhặt gói về nhà,
Nào là khâm liệm, nào là tang trai.
Lễ thường đã đủ một hai,
1670. Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ.
Bước vào chốn cũ lầu thơ,
Tro than một đống, nắng mưa bốn tường.
Sang nhà cha, tới trung đường,
Linh sàng, bài vị, thờ nàng ở trên.
1675. Hỡi ơi, nói hết sự duyên,
Tơ tình đứt ruột, lửa phiền cháy gan!
Gieo mình, vật vã khóc than:
”Con người thế ấy, thác oan thế này!
Chắc rằng mai trúc lại vầy,
1680. Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau.
Thương càng nghĩ, nghĩ càng đau,
Dễ ai lấp thảm, quạt sầu cho khuây”.
Gần miền nghe có một thầy,
Phi phù tri quỷ, cao tay thông huyền.
1685. Trên tam đảo, dưới cửu tuyền,
Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng.
Sắm sanh lễ vật rước sang,
Xin tìm cho thấy mặt nàng, hỏi han.
Đạo nhân phục trước tĩnh đàn,
1690. Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương.
Trở về minh bạch nói tường:
”Mặt nàng chẳng thấy, việc nàng đã tra.
Người này nặng kiếp oan gia,
Còn nhiều nợ lắm, sao đà thoát cho?
1695. Mệnh cung đang mắc nạn to,
Một năm nữa mới thăm dò được tin.
Hai bên giáp mặt chiền chiền,
Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn, lạ thay!”
Điều đâu nói lạ dường này!
1700. Sự nàng đã thế, lời thầy dám tin.
Chẳng qua đồng cốt quàng xiên,
Người đâu mà lại thấy trên cõi trần?
Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân,
Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên!
1705. Nước trôi hoa rụng đã yên,
Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian!
Khuyển Ưng đã dắt mưu gian,
Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.
Buồm cao, lèo thẳng, cánh suyền,
1710. Đè chừng huyện Tích, băng miền vượt sang.
Giã đò, lên trước sảnh đường,
Khuyển, Ưng, hai đứa nộp nàng dâng công.
Vực nàng tạm xuống môn phòng,
Hãy còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.

______
Ghi chú:

1227. Trướng đào: màn màu đỏ, phụ nữ thường dùng.

1231. Lá gió cành chim: lá đưa gió, cành đón chim, chỉ sự đưa đón khách chơi.

1232. Tổng Ngọc: người nước Sở, đời Chiến Quốc, đẹp trai, có những bài Cao đường phú, Thần nữ phú, nói về chuyện “mây mưa” của thần núi Vu Sơn...

Tràng Khanh: (Chính là chữ Trưởng nhưng thường đọc là Trường hay Tràng): tên tự của Tư Mã Tương Như, người Hán, yêu sắc đẹp của Trác Văn Quân, gảy đàn cầm gợi tình, làm cho nàng đang đêm bỏ nhà chốn theo mình.

Tống Ngọc và Tràng Khanh đều giỏi từ phú, là hai người tài tử, do đó, câu này ngụ ý khách đến chơi toàn những hạng phong lưu quý phái.

1239. Mưa Sở mây Tần: Chỉ sự ái ân trai gái.

1240. Hai câu này ý nói mặc cho người ân ái, Thúy Kiều vẫn thờ ơ lạnh lùng không biết gì là hạnh phúc và ngược lại rất đau khổ.

1241 – 1242: Hai câu này tả bốn cảnh (gió, hoa, trăng, tuyết) mà Thúy Kiều cùng thưởng thức, ngắm nghía với khách làng chơi.

1246. Trong nguyệt: Trong bóng trăng.

Dưới hoa: dưới dàn hoa. Hai câu 1245-1246 tả bốn thú chơi: gẩy đàn, đánh cờ, ngâm thơ, vẽ tranh, (cầm, kỳ, thi, hoa).

1249. Gió trúc mưa mai: mưa gió chỉ sự ái ân (như nghĩa mưa gió dập vùi) trúc mai chỉ sự bạn. Đây tiếp ý trên: Kiều thờ ơ với tất cả những chuyện mưa gió, trúc mai...

1250. Giùi mài: như nói mòn mỏi, thui thủi. Cũng có ý như là bị dập vùi.

1253. Chín chữ: thơ Lục Nga ở Kinh Thi nói về công nuôi con khó nhọc của cha mẹ, có nêu lên chín chữ, người sau gọi là cửu tự cù lao (chín chữ khó nhọc).

1254. Bóng dâu: bóng mặt trời xế trên ngọn dâu. Sách Hoài nam nữ nói: Mặt trời xế về phía phương Tây, gác bóng trên ngọn cây. Người sau mượn chữ bóng dâu để ví tuổi già.

1255. Dặm ngàn: Tức nghìn dặm.

1257. Sân hoè: sân có trồng cây hoè. Vương Hựu đời Tống tự tay trồng ba cây hoè ở sân nhà và nói: "Con cháu ta sau này thế nào cũng làm đến chức tam công" (Thời xưa, ở phía trước sân chầu nhà vua, chỗ ngồi của tam công, có trồng ba cây hoè, nên Vương Đán làm đến tể tướng. Nhân đó, người ta thường nói sân hoè để chỉ những nhà có con cái hiển đạt).

Đôi chút thơ ngây: Chỉ Thuý Vân và Vương Quan.

1258. Trân cam: những thức ăn quý báu, ngon ngọt. Hai câu này, ý Kiều nói: cha mẹ mỗi ngày một già, mà con cái trong nhà, thì sau khi nàng đi iồi, chỉ còn hai em nhỏ dại, lấy ai là người phụng dưỡng trân cam thay mình.

1261. Chương Đài: theo sách Thái bình quảng ký: Hàn Hoành, đời Đường lấy một danh kỳ là Liễu Thị ở đường phố Chương Đài, Trường An, sau đi làm quan xa, để vợ ở lại đó ba năm, không đón đi được, có gửi cho Liễu Thị bài từ rằng: Chương Đài liễu, Chương Đài liễu, tích nhật thanh thanh kim tại phủ? Túng sử trường điều tự cựu thuỳ, dã ưng phan chiết tha nhân thủ! (Cây liễu Chương Đài, cây liễu Chương Đài, ngày trước xanh xanh, nay còn không? Cho dù cành dài vẫn buông rủ như cũ, song có lẽ đã vin bẻ vào tay người khác rồi!). Đây ý nói: Khi Kim Trọng đi Liêu Dương, hộ tang chú trở về, sẽ hỏi lại người tình nhân cũ (là Thuý Kiều).

1262. Cành xuân: cành xanh đẹp; tức cành liều; chỉ Thúy Kiều.

1263. Tình sâu: chỉ tình chị em. Nghĩa dày: chỉ nghĩa vợ chồng. Ý Kiều mong Thuý Vân lấy tình chị em thay mình, trả nghĩa cho Kim Trọng.

1264. Hoa kia, cành này: "Hoa kia" chỉ Thuý Vân, "cành này" chỉ Kim Trọng.

1266. Hương quan: quê hương

Giấc hương quan: giấc mộng về quê hương.

1267. Song sa: cũng như song the.

1269. Thỏ bạc, ác vàng: như nói "thỏ lặn, ác tà" tức ngày và đêm lần lượt qua đi.

1270. Đoạn tràng: đứt ruột, chỉ sự đau đớn, gian khổ, kiếp đoạn trường; Sổ đoạn trường ghi tên những người phụ nữ bạ mệnh (Lời Đạm Tiên nói với Kiều: “Mà xem trong sổ đoạn trường có tên”). Hội đoạn trường: những người cùng trong kiếp đoạn trường.

Bốn câu này biểu lộ sự uất hận của Thúy Kiều đối với cuộc sống. Thúy Kiều vẫn tin đó là do Mệnh nhưng mặt khác, lúc này cũng có thái độ uất ức, giận giữ, đay nghiến chứ không hoàn toàn cam tâm; chú ý cách dùng điệp ngữ của Nguyễn Du.

1275. Khách du: khách đi chơi, đi du lãm ở nơi đất khách xa xôi.

1276. Kỳ Tâm: tên của họ Thúc, theo truyện Thanh Tâm Tài Nhân thì Kỳ Tâm là tên tự của Thúc Sinh.

1277. Huyện Thích, Châu Thường: tức huyện Vô Tích, phủ Thường Châu, thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc).

1278. Nghiêm đường: tức cha. Cha tính nghiêm nghị, mẹ tính hiền từ, nên người ta gọi cha là "nghiêm đường", "nghiêm phụ", mẹ là "từ mẫu", "từ thân".

1279. Hoa khôi: đứng đầu các hoa, nguyên là một danh từ chỉ hoa mai, vì hoa mai nở trước mọi thứ hoa (mai nở hoa trước mùa xuân), sau mượn để chỉ người con gái có nhan sắc đứng đầu trong các bè bạn chị em.

1280. Thiếp hồng: do chữ hồng tiên, thứ thiếp hồng gửi thăm kĩ nữ.

Hương khuê: phòng hương, phòng ở của phụ nữ, tục xưa phụ nữ hay dùng hương thơm, nên gọi là "hương khuê".

1281. Trưởng tô: do chữ lưu tô trưởng, thứ màn có tua kết bằng lông chim năm sắc.

1287. Lẽ hằng: lẽ thường.

1289. Đào mận: nói bóng sắc đẹp của người con gái đẹp.

1290. Câu này ý nói: trước chỉ là câu chuyện chơi bời, sau gắn bó sâu sắc.

1296. Bầu tiên: tức bầu rượu ngon, rượu quý. Chuốc: rót rượu mời nhau.
Nối thơ: Nối câu thơ, một lối chơi của các tao nhân mặc khách thời xưa, thường hai người, hoặc nhiều người nối lời nhau làm chung một bài thơ.

1297. Hương sớm, trà trưa: xông hương buổi sớm, uống trà buổi trưa.

1298. Bàn vây: bàn cờ vây. Trung Quốc có hai lối chơi cờ: Vi kỳ: cờ vây; Tượng kỳ:  cờ tướng.

1299. Truy hoan: theo đuổi sự vui chơi.

1301. Sóng khuynh thành: chỉ cái liếc nhìn của người đàn bà đẹp.

1303. Bốc rời: tiền rời cứ bốc từng nắm mà chi, không cần đếm là bao nhiêu, ý nói vung phí không tiếc tiền.

1306. Hơi đồng: tức mùi tiền bạc. Thời xưa, tiền tiêu đúc bằng đồng, nên nói "đồng" tức là tiền.

1308. Lửa lựu: hoa lựu khi nó nở trông đỏ chói như lửa chỉ cảnh mùa hè.

1312. ý nói Kiều có một thân thể đầy đặn xinh đẹp.

1314. Luật Đường: tức lối thơ ngũ ngôn luật (luật năm chữ) hay thất ngôn luật (luật bảy chữ), mỗi bài tám câu, năm vần, theo đúng niêm luật bằng trắc. Lối này có từ đời Đường, nên gọi là luật Đường.

1317. Nối điêu: nối đuôi con điêu. "Điêu" là một loài chuột ở rừng núi miền lạnh, đuôi to, lông dài đến một tấc, màu vàng hoặc đen tía. Đời Hán, theo quan chế, các quan hầu cận vua đều đội thứ mũ có cắm đuôi con điêu làm ngù. Đến đời Tần, Triệu Vương Luân cướp ngôi Huệ đế, phong quan tước cho bọn tôi tớ, mỗi khi triệu hội, ngồi đẩy những người đội mũ đuôi điêu, nên người thời ấy đã chê giếu: Điêu bất túc, cẩu vĩ tục (đuôi điêu không đủ, lấy đuôi chó nối vào). Người sau nhân chữ cẩu vĩ tục điêu (nối điêu) để chỉ sự việc gì có tính chất học đòi. Chữ "nối điêu" ở đây, là lời Kiều tự khiêm về việc họa lại thơ Thúc sinh.

1318. Nỗi quê: nỗi lòng nhớ quê hương.

1319. Mây vàng: nói ý nhớ nhà, do câu thơ cổ: Tần Trung đa bạch vân. Thục trung đa hoàng vân, cố tư gia giả vị chi cư hoàng vân (đất Tần nhiều mây trắng, đất Thục nhiều mây vàng, cho nên nhớ nhà gọi là nhớ mây vàng).

1322. Cành kia, cỗi này: chỉ Kiều và Tú Bà. Thúc Sinh tưởng Kiều là con đẻ của Tú Bà.

1323. Thu ba: sóng mùa thu, chỉ con mắt (nói con mắt trong suốt như suối mùa thu).

1327. Chúa xuân: người chủ vườn xuân, chủ hoa xuân, đây chỉ Thúc Sinh. Câu này ý nói: Thúc Sinh ở nhà đã có vợ rồi.

1329. Tương tri: hiểu biết nhau, thông cảm với nhau.

1330. Nước non: sông núi tức lời thề nguyền kết làm vợ chồng.

1334. Thú, tòng: Thú là "thú thiếp": lấy vợ lẽ, chỉ bên Thúc sinh; tòng "tòng lương": trở về lương, tức bỏ chỗ lầu xanh để trở về, đi lấy chồng, chỉ bên Kiều. Hai bên cùng gặp nhiều khó khăn.

1335. Bình Khang: Đời Đường, ở kinh thành Trường An, gần cửa Bắc, có một xóm gọi là Bình Khang cho kỹ nữ ở, sau nhân dùng làm danh từ chỉ chung xóm kỹ nữ.

1339. Thềm quế: thềm điện quế. Sách Dâu dương tạp chép: Trên mặt trăng có cây quế tiêu, cao năm trăm trượng, do đó, khi tả mặt trăng, người ta thường dùng chữ điện quế, cung quế.

1340. Chị Hằng: chị Hằng Nga, người chủ trương trong điện quế, nói bóng vợ cả Thúc Sinh.

1341. Giải đồng: giải đồng tâm.

1342. Thêm người, người cũng... chữ người chỉ Kiều, chữ người dưới chỉ Thúc sinh.

1343. Bèo mây: nói thân phận trôi nổi bất định như bèo mặt nước, mây trên không.

1344. Bể ái: bể ân ái, tức tình yêu vợ chồng.

1347. Vững tay co: cái tay co vững. Kiều nói: Nếu chàng có cứng tay, tức có quyền lực đối với vợ cả.

1349. Trong ngoài: chỉ vợ cả và Thúc Sinh. Theo lễ giáo xưa: Nam tự ngoại, nữ tự nội: Đàn ông trong coi việc bên ngoài, đàn bà trông coi việc trong nhà. Ý Kiều nói: Nếu thế lực vợ cả lớn hơn thế lực chàng.

1350. Hàm sư tử: như nói mieemgj sư tử, sư tử là loài thú dữ, ví với người đàn bà ghen tuông độc ác

Đằng la: Những loài dây leo (chính nghĩa là dây bim, dây tơ hồng). Đây dùng như chữ cát đằng, dây sắn dây bìm, ví với phận lẽ mọn.

1353. Nhà thông: nhà thung, đọc chệch ra, tức nhà xuân, do chữ xuân đường chỉ bố Thúc Sinh.

1355. Liễu ngõ, hoa tường: nói ví gái lầu xanh như liễu bên đường, hoa đầu tường, ai vin ai hái cũng được.

1363. Ngô, Lào: Nước Ngô (Trung Quốc), nước Lào (Ai Lao) tác giả dùng nghĩa bóng. Ý nói: Đừng nghĩ ngợi xa xôi, quanh quẩn làm gì.

1370. Non đoài: núi ở phía tây.

1371. Trúc viện: viện trúc, nơi nghỉ mát có trồng trúc xung quanh.

Thừa lương: hóng mát, nghỉ mát, Thúc Sinh mượn cớ là đưa Kiều đi hóng mát.

1373.Chiến, hoà: ở đây, chiến là dọa chuyện kiện cáo, hoà là lựa cách điều đình. Theo Kim vân Kiều truyện của Thanh Tâm: Thúc Sinh đưa Kiều về ở nhà Hoa Dương, một tay hào phú xứ ấy, rồi một mặt cậy Hoa Dương rêu rao về tội mua con gái nhà lương thiện về làm gái điếm, một mặt mượn Bộ Tần đến điều đình việc chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh.

1376. Thua cơ: thua mưu, thua mẹo của Thúc Sinh.

1378. Hoàn lương: gái đĩ bỏ nghề cũ trở về đời lương thiện.

1380. Trần ai: bụi bậm chỉ cảnh lầu xanh.

1381. Trúc, mai: chỉ sự giao kết thân mật của vợ chồng.

1383. Hương lửa: chỉ tình duyên vợ chồng.

1384. Ngọc sen:  chữ ngọc ở đây chỉ một đôi ngọc , chữ sen chỉ một đôi hoa sen ví với đôi vợ chồng hòa hợp. Hai câu trên tỏ ý "sum họp" mai trúc đã về một nhà.

1386. Sân ngô: sân có trồng cây ngô đồng. Ngô đồng là một loài cây cao, cành lá xanh biếc, nên thường gọi là bích ngô chen lá vàng giữa chòm lá xanh biếc, tức trời đã sang thu.

1387. Giậu thu: giậu hoa mùa thu.

Giò sương: giò hoa chịu được sương, ý chỉ hoa cúc.

1389. Phong lôi: gió, sấm, nói cơn giận nổi lên dữ dội như gió, như sấm.

1390. Nặng lòng e ấp: Thúc Ông trong lòng lấy làm e sợ về việc để cho con gái lầu xanh như thế, vì không những làm xấu thanh danh nhà mình, mà đối với Hoạn Thư cũng sẽ có chuyện lôi thôi.

1391. Biện bạch: ở đây nghĩa là phán bảo minh mạch, rành rọt.

1393. Nghiêm huấn: lời dạy của bố.

1396. Sấm sét: do chữ lôi đình, chỉ sự ra uy, như quát mắng đánh đập.

Búa rìu: do chữ phủ việt, chỉ sự gia hình; ý cả câu: Dẫu đánh mắng hay giết chết cũng xin chịu.

1397. Tay đã nhúng chàm: cái tay đã nhúng vào chàm, thì dù rút ra cũng bị nhuốm chàm xanh rồi. Ý nói đã lỡ lấy vợ thiếp.

1400. Đã lấy nhau thành vợ chồng thì nỡ nào lại lìa bỏ, cũng như nỡ ôm đàn cầm mà gẩy thì nỡ nào lại đứt dây cho được.

1404. Sốt gan: nóng gan, như nói nóng tiết.

Cáo quỳ: cáo là thưa trình, quì là quì gối, tức quì gối mà đề đơn thưa trình. Lệ xưa, ai vào quan thưa trình việc gì, phải quì gối trước công đường đầu đội lá đơn.

1406. Phủ đường: dinh quan phủ, ở đây chỉ quan phủ.

Phiếu hồng: tờ trát của quan.

Thôi tra: đòi lên, bắt lên mà xét hỏi.

1408. Sân hoa: sân phủ đường (chữ hoa ở đây chỉ đặt cho đẹp lời)

1409. Mặt sắt: do chữ thiết diện, mặt đen và cứng rắn như sắt, thường mượn để chỉ một vị quan cương trực, nghiêm nghị.

1415. Nguyên đơn: đơn của người nguyên cáo, tức Thúc Ông (Thúc Sinh và Kiều là bị cáo).

1419. Gia hình: gia hình phạt; ở đây là phạt trượng tức dùng trường (gậy) mà đánh.

1422. Ý Kiều nói: Đã quyết tình hoàn lương rồi, không muốn lại lần nữa mắc vào cảnh lầu xanh, như con nhện lại vướng víu vào lưới tơ thêm một lần nữa.

1424. Yếu thơ: yếu ớt, thơ dại.

Lôi đình: sấm sét, chỉ hình phạt.

1426. Ba cây: do chữ tam mộc là thứ hình cụ bằng gỗ thời xưa: cái gông cổ, cái kẹp tay và cái cùm chân. Ở đây, chữ ba cây có lẽ chỉ các hình phạt nói chung, vì Kiều chỉ bị phạt trượng.

Mẫu đơn: cành hoa đẹp, ví với Kiều.

1437. Phủ đường: đây là nói quan phủ.

1440. Cầu thân: cầu làm thân, nói việc định lấy nhau.

1446. Giải vi: cởi, gỡ vòng vây ra; đây ý nói gỡ cho ra lối thoát để giải quyết việc rắc rối này.

1452. Mộc gài: cái gông. Đầu đề bài thơ là vịnh cái gông.

1455. Giá lợt Thịnh Đường: ý nói làm mờ nhạt cả thơ Thịnh Đường.
Thịnh Đường: là giai đoạn phồn thịnh nhất thơ của triều đại nhà Đường, Trung Quốc;

1458. Châu Trần: ở châu Từ, về huyện Phong, xưa kia có họ Châu và họ Trần, đời đời làm thông gia với nhau, về sau người ta dùng hai chữ Châu Trần để nói sự lấy nhau đẹp đôi xứng lứa.

1459. Rước dữ cưu hờn: mua rước lấy điều dữ và cưu mang lấy sự hờn giận.

1467. Cổ xuý: nhạc bát âm. Cổ là những nhạc khí dùng để đánh như chiêng, trống. Xuý là những nhạc khí để thổi, như kèn sáo.

1468. Trướng đào: màn hoa đào, đây tức là buồng cưới.

1470. Hoa huệ hoa lan, ngụ ý nói cảnh sum họp.

1473. Mảng: tiếng cổ. Một là có ý bất ngờ, bất chợt. Ví dụ câu: Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng; hai là có ý nói mải mê về một việc gì mà quên đi. Ở đây là nghĩa này.

1474. Ý nói hết mùa xuân và bắt đầu sang mùa hạ

1478. Chim én (mùa xuân) chim nhạn (mùa thu), đổi thay nhau, ý nói từ mùa nọ sang mùa kia. Ở đây ý nói thời gian trôi thấm thoắt gần được một năm.

1480. Tao khang: bã rượu cám. Người vợ cùng ăn bã, ăn cám với nhau, tức là - người vợ cả lấy từ lúc còn hàn vi. Vua Quang Vũ nhà Hán muốn đem người chị gái mới goá là công chúa Hồ Dương gả cho Tống Hoằng, nhưng Hoằng đã có vợ. Vua hỏi ý Hoằng, Hoằng thưa: Tao khang chi thê, bất hạ đường, nghĩa là người vợ lấy trong lúc ăn tấm, ăn cám, không thể để xuống dưới nhà, ý nói không thể khinh rẻ, phụ bạc. Vua biết ý vậy, liền thôi.

1485. Phi thường: khác với người thường, ý nói người sâu sắc, hiểm độc.

1496. Hồi trang: về quê.

1498. Ninh gia: về thăm nhà.

1499. Quan hà: quan cửa ải, là sông. Chén quan hà: chén rượu tiễn biệt.

1500. Xuân đình: có thể hiểu là nơi xum họp, vui vẻ.

Cao đình: cổ thi: Cao đình tương biệt xứ, chỗ biệt nhau ở Cao đình.

1501. Sông Tần: sông ở đất Tần Xuyên, mạn tỉnh Cam Túc. Hai chữ này có nghĩa ước lệ, tượng trưng.

1502. Dương Quan: tên một cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm Tây, mạn tây bắc Trung Quốc.

1507. Yếm thắm trôn kim: đại ý câu này nói: Kiều cho rằng việc hai người lấy nhau là việc không thể giấu kín được.

1508. Bưng mắt bắt chim: bưng mắt lại thì không thể nào bắt được chim. Ý nói không thể nào che giấu nổi việc có vợ lẽ.

1509. Đèo bòng: có nghĩa là vương vít tình duyên.

1510. Nói sòng: Tức nói thẳng, nói trắng ra, không quanh co giấu giếm. Tiếng sòng dùng theo nghĩa sòng phẳng.

1519. Bào: áo. Thường thường trong khi ly biệt người ta hay nắm lấy áo nhau, tỏ tình quyến luyến. Chia bào tức là buông áo.

1520. Phong: một loại cây ở Trung Quốc, lá chia ra nhiều cành, gần giống lá cây thầu dầu ở bên ta, đến mùa thu thì sắc lá hoá đỏ.

Quan san: quan ải, núi non, thường được dùng để chỉ sự xa xôi cách trở.

1521. Dặm hồng: dặm đường đi giữa bụi hồng. Chinh là đi đường xa, an là yên ngựa. Người ta thường dùng hai chữ chinh an để chỉ việc đi đường xa.

1528. Buồng trong: chỉ vào người vợ. Câu này đại ý nói: Bây giờ hãy nói đến người vợ Thúc Sinh làm chủ gia đình ở quê nhà.

1530. Lại bộ: Bộ lại, tức là quan trọng nhất trong sáu bộ của triều đình phong kiến.

1531. Duyên Đằng: cổ thi: Thời lai phong tống Đằng Vương các (Thời vận đến, gí đưa lại gác Đằng Vương). Ý nói gặp cơ hội may mắn.

1534. Ràng buộc: có nghĩa là thắt buộc, cho người khác vào khuôn, vào phép của mình.

1535. Vườn mới thêm hoa: ý nói Thúc Sinh có thêm vợ lẽ.

1538. Đen bạc: cùng nghĩa như bạc bẽo, phụ bạc.

Trăng hoa: do chữ hoa nguyệt mà ra, ý chỉ sự chơi bời trai gái.

1541. Nền: nền nếp của người trên, tư thế của mình là người bề trên.

1551. Nhãn tiền: trước mắt.

1552. Tục ngữ: Chưa thăm ván đã bán thuyền. Ở đây chỉ Thúc sinh là người mới nới cũ.

1560. Thị phi: có nghĩa là việc phải thì nói thành trái, việc trái thì nói thành phải, thêu dệt phải trái làm cho người nghe mắc lầm.

1568. Lầu hồng: do chữ hồng lâu, nhà ở bọn quyền quý, cũng dùng để chỉ chỗ ở của hạng phụ nữ giàu sang.

1571. Tẩy trần: rửa bụi. Tục xưa, khi có người đi xa về thì đặt tiệc "tẩy trần", ý nói rửa sạch bụi bặm trong lúc đi đường.

1580. Rút dây động rừng: tục ngữ, ý nói rút một sợi dây làm rung chuyển đến cả một khu rừng. Câu này ý nói: Thúc Sinh sợ nói lộ câu chuyện lấy Kiều ra sẽ gây nên sóng gió trong gia đình.

1583-1584: đại ý nói ngọc hay đã, vàng hay thau, đôi ta đều đã biết phân biệt rạch ròi, không thể nào lầm lẫn được.

1593. Thuần: là một thứ rau, hức là một thứ cá. Trương Hàn đời nhà Tấn, đang lúc làm quan ở xa, thấy cơn gió thu, sực nhớ đến canh rau thuần và chả cá hức ở quê nhà, bèn bỏ quan mà về. Vì thế, người ta thường dùng hai chữ thuần hức để chỉ thú vui chơi nơi quê nhà.

1594. Cổ thi: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cọng tri thu: (chỉ một lá ngô đồng rụng mà ai cũng biết là thu sang). Câu này đại ý nói: Thúc Sinh ở quê nhà vừa bén mùi rau cá thì trời đã bắt đầu sang thu.

1596. Quan tái: cũng như quan ải, chỉ nơi núi non bờ cõi.

1599. Mây bạc: Do chữ bạch vân mà ra. Địch Nhân Kiệt đời Đường đi làm quan xa, thường chỉ đám mây trên núi Thái Hàng mà nói: "Nhà cha mẹ ta ở đây". Ở đây dùng để nói Thúc Sinh có cha ở xa.

1606. Xe hương: do chữ Hương xa, chỉ xe của phụ nữ.

Quy ninh là về hỏi thăm sức khoẻ của cha mẹ.

1609. Thành ngữ: Ngứa ghẻ hờn ghen, ý nói hai điều khó chịu nhất.

1614. Hải đạo: đường biển.

1621. Mầu: mầu nhiệm: mẹ Hoạn Thư khen cái mưu ấy rất điệu rất hay.

1623. Buồm: lá buồm. Lèo: dây treo buồm.

1624. Khuyển: chó, Ưng: chim cắt, hai loài vật dùng để đi săn. Ở đây dùng để đặt tên cho bọn tôi tớ trung thành của họ Hoạn.

Côn quang: cũng như côn đồ, dùng để chỉ bọn vô lại.

1626. Thuận phong: thuận gió. Một lá: một lá buồm, Kiều lúc ấy đang ở Lâm Tri, Lâm Tri nguyên là kinh đô nước Tề xưa, nên gọi là bến Tề.

1630. Ấm lạnh: Do chữ ôn sảnh (Đông ôn hạ sảnh), ngọt bùi do chữ cam chỉ, ý nói làm con phải quạt nồng ấm lạnh và phụng dưỡng những thức ngon lành cho cha mẹ.

1632. Lời non nước: lời chỉ non thề biển. Lời sắt son: lời trung thành vững chắc như sắt như son.

1633. Sắn bìm: do chữ cát đằng mà ra.

1636. Cung Quảng: cung Quảng Hàn trong mặt trăng, ả Hằng tức ả Hằng Nga trong cung. Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ, trộm thuốc trường sinh của chồng rồi chạy lên ở một mình trên cung trăng; Câu này đại ý nói: Thôi thì liều sống một mình như Hằng Nga trong cung Quảng Hàn vậy.

1638. Ba sao: do chữ Kinh Thi: Tam tinh tại thiên (ba sao ở trời). Ở đây tác giả chỉ mượn câu ấy để nói đêm đó ngoài song gió thổi, giữa trời có trăng có sao v.v...

1642. Khốc quỷ kinh thần: quỷ thần khóc, thần phải sợ, ý nói rất ghê gớm, đáng sợ.

1667. Di hài: hài cốt sót lại.

1668. Khâm liệm: lễ mặc quần áo mới và bọc vải lụa cho người chết trước khi bỏ vào áo quan. Tang trai: lễ đưa ma và làm chay.

1670. Lục trình: đi đường bộ.

1673. Trung đường: nhà chính giữa.

1674. Linh sàng: giường thờ.

Bài vị: mảnh gỗ viết tên người chết để thờ.

1680. Vĩnh quyết: cũng như vĩnh biệt, từ biệt hẳn, không bao giờ gặp nhau nữa.

1684. Phi phù trí quỷ: đốt bùa mà gọi được quỷ đến.

Thông huyền: thông cảm được với cõi huyền bí, tức cõi quỷ thần.

1685. Tam đảo: Ba đảo tiên: Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu. Người ta thường dùng để chỉ cõi thiêng liêng hoặc cõi tiên.

Cửu tuyền: chín suối, tức là âm phủ.

1689. Đạo nhân: cũng như đạo sĩ, chỉ ông thấy pháp.

Tĩnh đàn: đàn thờ thần thánh của bọn thầy pháp.

1690. Xuất thần: linh hồn thầy pháp thoát ra ngoài thể xác để đi vào cõi thần linh.

1695. Mệnh cung: cung là bản mệnh, một trong 12 cung của số Tử Vi. Sách số có câu: Cung mệnh mà có sao Bột chiếu vào thì người ấy mắc nạn. Câu này đại ý nói: Xem số Thuý Kiều thì đang mắc nạn to.

1697. Chiền chiền: tiếng cổ, có nghĩa là rành rành, hoặc liền liền.

1701. Đồng cốt: Ông đồng, bà cốt, những người làm nghề câu đồng, câu bóng.

1709. Cảnh suyền: cánh buồm đi nhanh.

(Theo bản Truyện Kiều – NXB Giáo dục 1984).

Truyện Kiều - Nguyễn Du (Phần thứ hai, từ câu 1057 đến câu 1226)

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều cũng là đỉnh cao thơ ca cổ điển của dân tộc. Vì vậy, Truyện Kiều luôn được nhân dân ta yêu mến…
Kieuhoc.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

alt
PHẦN THỨ HAI

GIA BIẾN VÀ LƯU LẠC

(Từ câu 1057 đến câu 1226)


Ra ở lầu Ngưng Bích , lại mắc lận Sở Khanh. Bị Tú Bà đánh đập và bắt tiếp khách.


Ngậm ngùi rủ bước rèm châu,
Cách tường, nghe có tiếng đâu họa vần.
Một chàng vừa trạc thanh xuân,
1060. Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng.
Nghĩ rằng cũng mạch thư hương,
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.
Bóng Nga thấp thoáng dưới mành,
Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai:
1065. “Than ôi! Sắc nước hương trời,
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?
Giá đành trong nguyệt trên mây,
Hoa sao, hoa khéo đọa đày bấy hoa?
Tức gan riêng giận trời già,
1070. Lòng này ai tỏ cho ta, hỡi lòng?
Thuyền quyên ví biết anh hùng,
Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi!”
Song thu đã khép cánh ngoài,
Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh.
1075. Nghĩ người thôi lại nghĩ mình,
Cám lòng chua xót, nhạt tình bơ vơ.
Những là lần lữa nắng mưa,
Kiếp phong trần biết bao giờ mới thôi?
Đánh liều nhắn một hai lời,
1080. Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.
Mảnh tiên kể hết xa gần,
Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài.
Tan sương vừa rạng ngày mai,
Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang.
1085. Trời tây bảng lãng bóng vàng,
Phục thư đã thấy tin chàng đến nơi.
Mở xem một bức tiên mai,
Rành rành tích việt có hai chữ đề.
Lấy trong ý tứ mà suy:
1090.Ngày hai mươi mốt, tuất thì phải chăng?”
Chim hôm thoi thót về rừng,
Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành.
Tường đông lay động bóng cành,
Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào.
1095. Sượng sùng đánh dạn ra chào,
Lạy thôi, nàng mới rỉ trao ân cần.
Rằng: “Tôi bèo bọt chút thân,
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh.
Dám nhờ cốt nhục tử sinh,
1100. Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau!”
Lặng ngồi lẩm nhẩm gật đầu:
”Ta đây phải mượn ai đâu mà rằng!
Nàng đà biết đến ta chăng,
Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi!”
1105. Nàng rằng: “Muôn sự ơn người,
Thế nào xin quyết một bài cho xong.”
Rằng: “Ta có ngựa truy phong,
Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi.
Thừa cơ lẻn bước ra đi,
1110. Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn?
Dù khi gió kép, mưa đơn,
Có ta đây, cũng chẳng cơn cớ gì!”
Nghe lời, nàng đã sinh nghi,
Song đà quá đỗi, quản gì được thân.
1115. Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu!
Cùng nhau lẻn bước xuống lầu,
Song song ngựa trước ngựa sau một đoàn.
Đêm thâu khắc lậu canh tàn,
1120. Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm sương.
Lối mòn cỏ nhợt màu sương,
Lòng quê đi một bước đường một đau .
Tiếng gà xao xác gáy mau,
Tiếng người đâu đã mé sau dậy dàng.
1125. Nàng càng thổn thức gan vàng,
Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!
Một mình khôn biết làm sao,
Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hùng.
Hóa nhi thật có nỡ lòng,
1130. Làm chi dày tía vò hồng lắm mau!
Một đoàn đổ đến trước sau,
Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời.
Tú Bà tốc thẳng đến nơi,
Hầm hầm áp điệu một hơi lại nhà.
1135. Hung hăng chẳng nói chẳng tra,
Đang tay vùi liễu, giập hoa tơi bời.
Thịt da ai cũng là người,
Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau.
Hết lời thú phục, khẩn cầu,
1140. Uốn lưng thịt đổ, cất đầu máu sa.
Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,
Nước non lìa cửa, lìa nhà đến đây.
Bây giờ sống chết ở tay,
Thân này đã đến thế này thì thôi!
1145. Nhưng tôi có sá chi tôi,
Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?
Thân lươn bao quản lấm đầu,
Chút lòng trinh bạch từ sau cũng chừa”!
Được lời mụ mới tùy cơ,
1150. Bắt người bảo lĩnh, làm tờ cung chiêu .
Bày vai có ả Mã Kiều,
Xót nàng, ra mới đánh liều chịu đoan.
Mụ càng kể nhặt, kể khoan,
Gạn gùng đến mực nồng nàn mới tha.
1155. Vực nàng vào nghỉ trong nhà,
Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời:
”Thôi đà mắc lận thì thôi!
Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh?
Bạc tình nổi tiếng lầu xanh,
1160. Một tay chôn biết mấy cành phù dung!
Đà đao lập sẵn chước dùng,
Lạ gì một cốt, một đồng xưa nay!
Có ba mươi lạng trao tay,
Không dưng chi có chuyện này, trò kia!
1165. Rồi ra trở mặt tức thì,
Bớt lời, liệu chớ sân si, thiệt đời”!
Nàng rằng: “Thề thốt nặng lời,
Có đâu mà lại ra người hiểm sâu”!
Còn đương suy trước nghĩ sau,
1170. Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào.
Sở Khanh lên tiếng rêu rao:
”Rằng nghe mới có con nào ở đây.
Phao cho quyến gió rủ mây,
Hãy xem có biết mặt này là ai”
1175. Nàng rằng: “Thôi thế thì thôi!
Rằng không, thì cũng vâng lời là không!”
Sở Khanh quắt mắng đùng đùng,
Sấn vào, vừa rắp thị hùng ra tay,
Nàng rằng: “Trời nhẽ có hay!
1180. Quyến anh, rủ yến, sự này tại ai?
Đem người đẩy xuống giếng khơi,
Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay!
Còn tiên tích việt ở tay,
Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai?”
1185. Lời ngay, đông mặt trong ngoài,
Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương!
Phụ tình án đã rõ ràng,
Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui.
Buồng riêng, riêng những sụt sùi,
1190. Nghĩ thân, mà lại ngậm ngùi cho thân:
”Tiếc thay trong giá trắng ngần,
Đến phong trần, cũng phong trần như ai!
Tẻ, vui cũng một kiếp người,
Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru?
1195. Kiếp xưa đã vụng đường tu,
Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi!
Dù sao bình đã vỡ rồi,
Lấy thân mà trả nợ đời cho xong!”
Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong,
1200. Tú Bà ghé lại thong dong dặn dò:
”Nghề chơi cũng lắm công phu,
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều”.
Nàng rằng: ”Mưa gió dập dìu,
Liều thân, thì cũng phải liều thế thôi!”
1205. Mụ rằng: “Ai cũng như ai,
Người ta ai mất tiền hoài đến đây?
Ở trong còn lắm điều hay,
Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.
Này con thuộc lấy nằm lòng,
1210. Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề.
Chơi cho liễu chán hoa chê,
Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời .
Khi khóe hạnh, khi nét ngài,
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa.
1215. Đều là nghề nghiệp trong nhà,
Đủ ngần ấy nết mới là người soi”.
Gót đầu vâng dạy mấy lời,
Dường chau nét nguyệt, dường phai vẻ hồng.
Những nghe nói đã thẹn thùng,
1220. Nước đời lắm nỗi lạ lùng, khắt khe!
Xót mình cửa các, buồng khuê,
Vỡ lòng, học lấy những nghề nghiệp hay!
Khéo là mặt dạn mày dày,
Kiếp người đã đến thế này thì thôi!
1225. Thương thay thân phận lạc loài,
Dẫu sao cũng ở tay người biết sao?


N.D

__________
Chú thích:

1057. Rèm châu: rèm dát ngọc châu.

1061. Mạch: nguồn mạch. Ý nói dòng dõi. Thư hương: cái hương thơm của sách vở. Mạch thư hương: dòng dõi nhà có học.

1062. Sở Khanh có lẽ là tên tự. Bản thân chữ Sở Khanh không bao hàm ý xấu.

1063. Bóng nga: bóng Hằng Nga, bóng người đẹp, chỉ Kiều.

1064. Đeo đai: vương vấn, quyến luyến nhưng hàm ý xấu, thiếu chân thật.

1067. Trong nguyệt trên mây: ý nói có một phẩm giá khác đời, như Hằng Nga trong cung nguyệt, hay tiên nữ trên cung mây.

1070. Chữ lòng ở đầu câu là Sở Khanh tự nói lòng mình, còn chữ lòng ở cuối câu là Sở Khanh hỏi lòng Kiều, hai chữ chỉ riêng hai người.

1071. Thuyền quyên: nghĩa là óng ả, xinh đẹp. Trong văn cổ thường dùng để chỉ người phụ nữ đẹp.

1073. Song thu: cửa sổ mùa thu.

1080. Tế độ: cứu vớt (tiếng nhà Phật).

Trầm luân: chìm đắm. Ý Kiều muốn nhờ Sở Khanh cứu mình như Phật cứu vớt chúng sinh khỏi bể khổ.

1081. Mảnh tiên: mảnh giấy hoa tiên, tức tờ thư.

1082. Nỗi nhà báo đáp: nông nỗi phải báo đáp ơn nhà, bán mình chuộc cha.

1084. Tiện hồng: thuận tiện cánh chim hồng, tức là nhân có người mà gửi thư. Chữ hồng đây dùng như chữ nhạn, chỉ tin tức thư từ.

1085. Phục thư: thư đáp lại, thư trả lời.

1086. Tiên mai: do chữ mai tiên, tờ tiên có vẽ cành hoa mai.

1090. Tuất: giờ tuất, tức tám, chín giờ tối. Hai chữ tích việt của Sở Khanh, đem tản ra theo lối tản tự, thì thành những chữ Trấp nhất nhật tuất lẩu, nghĩa là ngày hai mươi mốt, giờ tuất, chạy trốn. Đó là Sở Khanh bí mật hẹn ngày giờ đi trốn mà Kiều đã lấy ý tứ suy đoán ra.

1091. Thoi thót: chim từng con lần lượt bay về, con này rồi đến con khác.

1092. Trà mi: một thư hoa nở về cuối xuân, đầu hạ, hoa đẹp. Ngậm trăng nửa vành: ý nói buổi tối, vầng trăng chiếu vào hoa trà mi ngậm lấy nửa vành trăng.

1096. Ân cần: ở đây có nghĩa là khẩn khoản.

1097. Bèo bọt: như bèo hay bọt trôi nổi trên mặt nước, ngụ lý lưu lạc lẻ loi.

1098. Yến anh: đây chỉ gái nhà chứa. Ý Kiều nói: nàng như con chim lạc đàn, lại mang lấy cái nợ làm gái nhà chứa.

1099. Cốt nhục tử sinh: do chữ sinh tử nhục cốt. Tả truyện: Sở vị sinh tử nhi nhục cốt đã (thế gọi là làm sống lại người chết, làm mọc thịt nắm xương khô - làm cho người đã chết sống lại, xương đã khô mọc thịt ra). Do đó, người ta thường chỉ sự làm ơn rất sâu sắc, to lớn.

1100. Kết cỏ ngậm vành: Tả truyện: Nguỵ Thù nước Tấn, có một người thiếp yêu, khi sắp chết còn dặn con là Nguỵ Khoả phải đem cả người thiếp chôn theo. Nguỵ Thù chết, Nguỵ Khoả cho người thiếp về không đem chôn theo. Sau Nguỵ Khoả làm tướng đi đánh giặc nước Tần, gặp tướng Tần là Đỗ Hồi, khoẻ mạnh có tiếng, đang lúc đánh nhau, tự nhiên Đỗ Hồi vấp phải đám cỏ mà ngã, bị Nguỵ Khoả bắt được. Đêm về, Nguỵ Khoả mộng thấy một ông già đến nói rằng: "Tôi là cha người thiếp, cảm ơn ông không chôn con gái tôi, nên tôi kết cỏ quấn chân Đỗ Hồi cho nó ngã vấp để báo ơn".

Tục Tề hài ký: Dương Biểu đến chơi núi Hoa Âm cứu sống được một con chim. Đêm ấy có một đồng tử mặc áo vàng đến tặng bốn chiếc vòng và nói rằng: "Ta là sứ giả của Tây Vương Mẫu may được chàng cứu mạng, xin cảm tạ đại ân". Do đó, người ta thường nói "kết cỏ ngậm vành" để chỉ sự đền ơn trả nghĩa.

1107. Truy phong: đuổi theo gió, nói con ngựa đi rất nhanh.

1108. Dưới trướng: do chữ trướng hạ, nguyên chỉ quân sĩ thuộc quyền chỉ huy của một vị tướng soái. Đây dùng để chỉ kẻ tay chân của Sở Khanh.

Kiện nhi: người trẻ tuổi mà có sức khỏe. Sở Khanh khoe nhà y có ngựa tốt và thủ hạ khỏe mạnh, là có ý bảo Kiều nếu chạy trốn thì sẽ sẵn phương tiện và người hộ vệ chắc chắn không phải lo ngại gì.

1110. Ba mươi sáu chước: Nam sử: Vượng Kinh Tắc nói: Tam thập lục sách, tẩu thị thượng kế (ba mươi sáu chước, chạy trốn là trước hay nhất). "Tam thập lục" là một danh từ chỉ chung tất cả các chước, các kế chứ không phải cụ thể là ba mươi sáu chước. Câu này Sở Khanh bảo Kiều chỉ có một kế hay nhất là chạy trốn.

1111. Gió kép mưa đơn: ý nói dù có những trở ngại bất trắc...

1114. Quá đỗi: quá mức, quá đà, ý nói việc đã trót dở dang rồi.

1119. Lậu:  nhỏ giọt (nói về đồng hồ nhỏ giọt). Thời xưa thường dùng "đồng hồ nước" để tính thời khắc. Đó là một cái đồng hồ bằng đồng, dưới có đục lỗ nhỏ, trong chứa nước, giữa đựng một cái tên có khắc độ; nước trong hồ do lỗ nhỏ giọt ra, thì những độ số ở cái tên cũng dần dần lộ ra, xem đó, biết được thời khắc của ngày đêm. Danh từ “đồng hồ” ngày nay còn quen gọi là gốc ở đó.

1121. Lối mòn cỏ nhợt màu sương: tả con đường mòn trong rừng, không phải đường chính, do có người đi nhiều mà thành đường. Cỏ có sương đêm phủ lên nên màu sắc thành nhợt nhạt.

1122. Lòng quê đi một bước đường mà đau: tình thương nhớ quê hương, gia đình càn thêm đau xót vì khi đi với Mã, đến với Tú Bà là đã nhiều chặng đường xa cách, đến đây lại ra đi với Sở Khanh vào một nơi vô định, càng rời xa thêm bước nào, Kiều càng đau xót thêm ngần ấy.

1124. Dậy dàng: xôn xao, ồn ào.

1125. Gan vàng: có nghĩa như lòng vàng. Kiều đoán có người đuổi theo phía sau nên hồi hộp sợ hãi...

1128. Dặm rừng: đường rừng, lối đi trong rừng.

1130. Lắm nau: lắm nao.

1132. Vuốt: Móng sắc của loài thú. ý nói không thoát lối nào được.

1139. Thú phục: thú tội.

Khẩn cầu: khẩn khoản, cầu xin.

1142. Nước non: ý nói cách trở nước non, tức là nơi ở xa xôi.

1150. Bảo lĩnh: người đứng ra đảm bảo, chịu trách nhiệm thay.

Cung chiêu: cung khai, nhận tội Tú Bà muốn bắt buộc Kiều giữ lời hứa, nên bắt làm tờ cung chiêu nhận tội, và bắt người đứng bảo lĩnh về lời cam kết của nàng.

1151. Bày vai: cùng hàng cùng lứa.

1152. Chịu đoan: chịu nhận trách nhiệm về Kiều.

1160. Phù dung: hoa phù dung, ví với người đẹp.

1161. Đà đao: khi đánh giặc, giả thua chạy để người ta đuổi theo, rồi thình lình quăng dao lại chém, gọi là "đà dao". "Đà đao" đây là một chước lừa.

1162. Một cốt một đồng: nói Tú Bà với Sở Khanh thông đồng hiệp mưu với nhau để đánh lừa Kiều.

1146. Không dưng: Nếu không thì tự nhiên làm chi có...

1166. Sân si: phân bua, cãi cọ. Mã Kiều khuyên Kiều nên nén nỗi tức giận, chớ nên đôi có với Sở Khanh mà thiệt mình.

1173. Quyến gió rủ mây: quyến rũ mây gió đi theo. Ý nói quyến rũ Kiều.

1178. Thị hùng: cậy sức mạnh mà ra oai đánh đập người.

1189. Anh yến: chỉ chung những người con gái.

1181. Giếng khơi: giếng sâu.

1182. Ăn lời: nuốt lời, tức không giữ lời.

1184. Mặt ấy, mặt này: Mấy tiếng này, Kiều xỉa xói vào mặt Sở Khanh mà nói, đối đáp lại tiếng "mặt mày" của Sở Khanh ở trên.

1186. Vô lương: cũng như bất lương, không lương thiện, không có lương tâm.

1188. Nghỉ: hắn.

1191. Trong giá trắng ngần: do câu tục ngữ: Trong như giá, trắng như ngần, trong như băng trắng như bạc (ngần là do chữ ngân).

1028. Khép mở, riêng chung: chỉ giọng nói tỉ tê, nửa khép nửa mở, mối tình nỉ non, như riêng như chung, tức những mánh khoé quyến rũ.

1210. Vành ngoài bảy chữ: bảy cách đối với khách ở bề ngoài để cho khách say mê.

Vành trong tám nghề: tám cách đối đãi trong khi ăn nằm với khách, đối với mỗi hạng người, dùng một lối riêng để làm vừa lòng họ.

1213. Khoé hanh: khoé mắt; mắt sắc như lá hạnh.

Khi khoé hạnh, khi nét ngài: ý nói khi mắt liếc, khi mày đưa.

1216. Người soi: người sành sỏi, lịch lãm, biết ngón chơi.

1218. Nét nguyệt: nét lông mày hình vành trăng.

Vẻ hồng: vẻ mặt hồng.

1220. Khắt khe: ở đây như nói éo le, quái ác.

1221. Các khuê: Do chữ khuê các.


(Theo bản Truyện Kiều – NXB Giáo Dục 1984)

Truyện Kiều - Nguyễn Du (Phần thứ hai, từ câu 907 đến câu 1056)

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều cũng là đỉnh cao thơ ca cổ điển của dân tộc. Vì vậy, Truyện Kiều luôn được nhân dân ta yêu mến…
Kieuhoc.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

alt

PHẦN THỨ HAI

GIA BIẾN VÀ LƯU LẠC

(Từ câu 907 đến câu 1056)

Rơi vào tay Mã Giám Sinh và Tú Bà, Thúy Kiều tự vẫn nhưng không chết.


Đùng dùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay.
Trông vời, gạt lệ chia tay,
910. Góc trời thăm thẳm, đêm ngày đăm đăm.
Nàng thì dặm khách xa xăm,
Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây.
Vi lô san sát hơi may,
Một trời thu để riêng ai một người .
915. Dặm khuya ngất tạnh mù khơi,
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông!
Rừng thu từng biếc xen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn.
Những là lạ nước lạ non,
920. Lâm Tri vừa một tháng tròn tới nơi,
Xe châu dừng bánh cửa ngoài,
Rèm trong đã thấy một người bước ra.
Thoắt trông nhờn nhợt màu da,
Ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao?
925. Trước xe, lơi lả han chào,
Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi.
Bên thì mấy ả mày ngài,
Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi.
Giữa thì hương án hẳn hoi,
930. Trên treo một tượng trắng đôi lông mày.
Lầu xanh quen lối xưa nay,
Nghề này thì lấy ông này tiên sư,
Hương hôm hoa sớm phụng thờ,
Cô nào xấu vía có thưa mối hàng.
935. Cởi xiêm lột áo sỗ sàng,
Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm.
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi!
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì,
940. Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:
”Cửa hàng buôn bán cho may,
Đêm đêm hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu,
Muôn nghìn người thấy cũng yêu,
Xôn xao oanh yến rập rìu trúc mai!
945. Tin nhạn vẩn, lá thư bài,
Đưa người cửa trước, rước người cửa sau”.
Lạ tai, nghe chửa biết đâu,
Xem tình ra cũng những màu dở dang.
Lễ xong hương hỏa gia đường,
950. Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.
Dạy rằng: “Con lạy mẹ đây,
Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia”.
Nàng rằng: “Phải bước lưu li,
Phận hèn vâng đã cam bề tiểu tinh.
955. Điều đâu lấy yến làm anh,
Ngây thơ chẳng biết là danh phận gì?
Đủ điều nạp thái vu qui,
Đã khi chung chạ, lại khi đứng ngồi.
Giờ ra thay mặt đổi ngôi,
960. Dám xin gửi lại một lời cho minh”.
Mụ nghe nàng nói hay tình,
Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên:
”Này này sự đã quả nhiên,
Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi!”
965. Bảo rằng: “Đi dạo lấy người,
Đem về rước khách kiếm lời mà ăn.
Tuồng vô nghĩa, ở bất nhân,
Buồn mình, trước đã tần mần thử chơi.
Màu hồ đã mất đi rồi,
970. Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!
Con kia đã bán cho ta,
Nhập gia, phải cứ phép nhà tao đây!
Lão kia có giở bài bây,
Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe!
975. Cớ sao chịu tốt một bề,
Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!
Phải làm cho biết phép tao!”
Giật bì tiên rắp sấn vào ra tay.
Nàng rằng: “Trời thẳm đất dày!
980. Thân này đã bỏ những ngày ra đi!
Thôi thì thôi có tiếc gì”!
Sẵn dao tay áo, tức thì giở ra.
Sợ gan nát ngọc liều hoa!
Mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay.
985. Thương ôi, tài sắc bậc này,
Một dao oan nghiệt, đứt dây phong trần!
Nỗi oan vỡ lở xa gần,
Trong nhà người chật một lần như nêm.
Nàng thì bằn bặt giấc tiên,
990. Mụ thì cầm cập, mặt nhìn hồn bay.
Vực nàng vào chốn hiên tây,
Cắt người coi sóc, chạy thầy thuốc thang.
Nào hay chưa hết trần duyên,
Trong mê dường đã đứng bên một nàng.
995. Rỉ rằng: “Nhân quả dở dang,
Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao!
Số còn nặng nợ má đào,
Người dầu muốn quyết trời nào đã cho!
Hãy xin hết kiếp liễu bồ,
1000. Sông Tiền đường sẽ hẹn hò về sau”.
Thuốc thang suốt một ngày thâu,
Giấc mơ nghe đã dầu dầu vừa tan.
Tú Bà chực sẵn bên màn,
Lựa lời khuyên giải mơn man gỡ dần:
1005. “Một người dễ có mấy thân!
Hoa xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài.
Cũng là lỡ một, lầm hai,
Đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây!
Lỡ chân trót đã vào đây,
1010. Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non.
Người còn thì của hãy còn,
Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà.
Làm chi tội báo oán gia,
Thiệt mình mà hại đến ta hay gì?”
1015. Kề tai mấy mỗi nằn nì,
Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi.
Vả suy thần mộng mấy lời,
Túc nhân âu cũng có trời ở trong.
Kiếp này nợ trả chưa xong,
1020. Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau!
Lặng nghe, thấm thía gót đầu,
Thưa rằng: “Ai có muốn đâu thế này?
Được như lời thế là may,
Hẳn rằng mai có như rày cho chăng?
1025. Sợ khi ong bướm đãi đằng,
Đến điều sống đục, sao bằng thác trong”.
Mụ rằng: “Con hãy thong dong,
Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!
Mai sau ở chẳng như lời,
1030. Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi”.
Thấy lời quyết đoán hẳn hoi,
Đành lòng, nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần…
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.
1035. Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
1040. Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ?
1045. Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm?
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
1050. Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dầu dầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
1055. Chung quanh những nước non người,
Đau lòng lưu lạc, nên vài bốn câu.

N.D

_______
Chú thích:

907. Gió giục mây vần: Tả xe Kiều đi mau lẹ, vội vã, hô ứng với chữ “như bay” ở câu dưới.
908. Hồng trần: Hai câu này chuển xuống cuộ hành trình của Mã với Kiều, lời văn rất mạnh. Mã muốn gấp rút đưa Kiều về, nên khi đáp lời Vương Ông xong, thì cho xe đi ngay và đi rất nhanh.

912. Bạc phau: trắng phau, trắng xoá.

Cầu giá: váng sương đóng trên mặt cầu buổi sớm mai.

Ngàn mây: những đám mây ở những nơi rừng núi. Câu này tả cảnh cuối thu, bắt đầu sang đông.

913. Hơi may: hơi gió heo may.

915. Ngất tạnh: bầu trời cao ngất mà tạnh ráo.

Mù khơi: mù mịt xa khơi, tả sương thu ở chân trời.

916. Lời non sông: Kiều thấy trăng mà nhớ đến cái "vầng trăng" đêm nào đã chứng kiến cuộc thề nguyện của hai người.

917. Từng biếc xen hồng: rừng cây mùa thu có những lá úa màu đỏ xen giữa từng lá mùa xanh.

918. Thần hôn: sớm hôm, chỉ sự sớm hôm chăm sóc thăm hỏi cha mẹ.

920. Lâm Tri: tên huyện, thuộc tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc).

921. Xe châu: xe có rèm hạt châu, thứ xe phụ nữ ngồi.

927. Mày ngài: tức mấy ả gái điếm.

930. Tượng: bức tranh vẽ. Tượng trắng đôi lông mày tức tranh thần "Bạch Mi". các nhà thanh lâu có tục thờ tranh thần “Bạch Mi”.

932. Tiên sư: tổ sư, ông tổ sáng lập ra một nghề. Chữ dùng hàm ý mỉa mai.

937. Đổi hoa: như nói thải hoa, tức như lấy hoa mới để thờ, thải hoa cũ lót xuống dưới chiếu nằm.

938. Tứ vi: bốn phía xung quanh.

942. Hàn thực: ăn lạnh, ăn đồ nguội.

Giới Tử Thôi giúp Tấn Văn Công khôi phục lại ngôi vua, nhưng lúc ân thưởng triều thần, Văn Công lại quên mất Tử Thôi, Tử Thôi bất bình trốn vào núi ở ẩn. Đến lúc Văn Công nghĩ lại, muốn vời Tử Thôi, nhưng Tử Thôi quyết chí ở ẩn, Văn Công ra lệnh đốt rừng. Tử Thôi quyết tâm chịu chết cháy ở trong núi. Văn Công hối hận vô cùng, ra lệnh hàng năm đúng ngày Tử Thôi chết, cấm không được đốt lửa. Do đó mà có tục hàn thực, cứ trước tiết thanh minh hai ngày (có sách chép một ngày) người ta cấm đốt lửa, ăn đồ nguội, và tổ chức nhiều cuộc vui: đá cầu, đánh đu, chọi gà, kết xe hoa đi dong chơi rất tưng bừng.

Nguyên tiêu: đêm tiết thượng nguyên, tức đêm ngày rằm tháng riêng đầu năm. Đây Tú Bà khấn thần phù hộ cho cửa hàng lầu xanh của mụ, ngày lại đêm, lúc nào khách chơi cũng ra vào đông đúc, tấp nập như những ngày hội hàn thực, nguyên tiêu.

945. Tin nhạn: Tô Vũ, người đời Hán, đi sứ sang Hung Nô, không chịu khuất phục, bị chúa Hưng Nô đầy lên Bắc Hải chăn dê, nhà Hán hỏi, thì bảo là chết rồi, sau sứ Hán phải nói thác là vua Hán săn được con chim nhạn ở vườn thượng lâm chân nó có buộc một bức thư lụa của Tồ Vũ gửi về, khi ấy Hưng Nô mới chịu trả lại Tô Vũ cho nhà Hán. Do đó, người ta thường nói "tin nhạn" để chỉ tin thư. Ở đây, tác giả dùng như nghĩa "tin tức" đơn thuần.

949. Hương hỏa gia đường: bốn chữ này nguyên chỉ nhà hay bàn thờ cúng gia tiên, đây tác giả dùng chỉ bàn thờ thần Bạch Mi, có nghĩa Tú Bà và Mã Giám sinh đã nhận tổ sư lầu xanh làm gia tiên của mình.

952. Cậu mày: tức cha mày, chỉ Mã Giám Sinh, Tú Bà bắt Kiều lạy nhận mụ là mẹ nuôi, Mã Giám Sinh là cha nuôi.

954. Tiểu tinh: sao nhỏ, chỉ vợ lẽ.

955. Lấy yến làm anh: ý nói sự thay bậc đổi ngôi, chẳng ra danh phận gì.

962. Tam banh: theo sách Đạo giáo "Trong người ta có ba thần thi: Thượng Thi, tên Bành Chất, ở bụng; Hạ Thi, tên Bành Kiệu, ở chân, thường làm hại người". Do đó, người ta cho rằng: những sự hung ác giận dữ của người là do thần "Tam thi" hay"Tam Bành" làm ra, và thường dùng chữ tam bành để chỉ cơn tức giận.

964. Min: ta, tao (tiếng cổ).

978. Bì tiên: cái roi bằng da.

986. Phong trần: câu này ý nói một nhát dao oan nghiệt cắt đứt quan hệ với cuộc đời phong trần, tức là chết.

993. Trần duyên: nhân duyên cõi trần, cõi đời.

995. Quả kiếp nhân duyên: quả là kết quả, Nhân là nguyên nhân, ý nói duyên (tốt) hay kiếp (xấu) cùng có nhân với quả cả. Theo giáo lí đạo Phật: cái “quả” biểu hiện ra ở kiếp này là do cái “nhân” từ kiếp trước gây nên.

996. Đọan tràng: đoạn trường, đứt ruột, chỉ sự đau đớn bi thương.

999. Liễu bồ: bồ liễu, một loài dương ưa mọc gần nước. Cây bồ liễu rụng lá sớm hơn các loại cây, vì thể chất yếu đuối đó nên văn cổ thường dùng để chỉ phụ nữ.

1000. Tiền đường: tên một con sông chảy qua gần Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).

1006. Hoa xuân đương nhuỵ: hoa xuân đương lên nhuỵ, tức mới nở. Ý nói Kiều còn trẻ trung.

1008. Đá vàng: chỉ lòng kiên trinh của phụ nữ. Ý nói Kiều kiên trinh thì Tú Bà không nỡ ép tiếp khách.

1010. Khoá buồng xuân: khoá kín vẻ xuân trong buồng, như nói cấm cung.

Đợi ngày đào non: đợi ngày lấy chồng.

1013. Tội báo: như nói là ác báo.

Oan gia: kẻ oán thù.

1016. Thị phi rạch ròi: lẽ phải, lẽ trái phân minh. Đại ý: Kiều nghe lời Tú Bà nói cũng có lý.

1017. Thần mộng: Lời báo mộng của quỉ thần (tức Đạm Tiên).

1018. Túc nhân: nhân duyên có sẵn từ trước, như nói duyên số tiền định.

1025. Đãi đằng: tiếng cổ, nghĩa là giãi bày.

Ca dao:

Cá buồn cá lội tung tăng

Em buồn em biết dãi dằng cùng ai.

Còn ở đây chưa thực rõ nghĩa. Bản Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim giải là “lôi thôi”.

1027. Thong dong: ở đây có nghĩa là khoan tâm, thư tâm.

1033. Ngưng Bích: tên cái lầu mà Tú Bà dành cho Kiều ở.

Ngưng Bích: nghĩa là đọng (tụ) lại màu biếc.

1034. Vẻ non xa, tấm trăng gần, ở chung: Kiều ở trên lầu cao nhìn thấy dãy núi xa và mảnh trawg như cùng ở trong một vòm trời, như cùng trong một bức tranh.

1036. Bụi hồng: đây chỉ những đám bụi bốc lên ở trên đường.

1037. Bẽ bàng: chán ngán, buồn tủi.

1039. Chén đồng: chén đồng tâm, tức chén rượu thề nguyền đồng tâm với nhau.

1040. Ý nói Kim Trọng không biết nàng đã bán mình đi xa, tới nay vẫn còn mong tin tức nàng thật là uổng công.

1042. Tấm son: tấm lòng son, đây chỉ tấm lòng thuỷ chung.

1044. Quạt hồng, ấp lạnh: chỉ sự con gái chăm sóc bố mẹ. Mùa hè thì quạt cho bố mẹ ngủ, mùa đông thì vào nằm trước trong giường để sau bố mẹ ngủ chỗ nằm đã ấm sẵn.

1045. Sân Lai: sân Lão Lai. Theo sách Cao Sĩ truyện: "Lão Lai Tử, người nước Sở, đời Xuân Thu, tuổi đã ngoài bảy mươi, mà còn cha mẹ già, ông thường mặc áo ngũ sắc sặc sỡ, ra múa ở trước sân, rồi giả cách ngã, khóc, như trẻ con, để làm cho cha mẹ vui". Đây nói bóng sân nhà cha mẹ, tức nhà mình.

1046. Gốc tử: gốc cây tử (loài cây thị). Thơ Tiểu biền, Kinh Thi có câu: Tang dữ tử tất cung kính chi (kia cây dâu với cây tử tất phải cung kính), ý nói dâu và tử là những cây do tay cha mẹ trồng quanh nhà, người làm con phải biết quý trọng nó. Đây dùng chỉ cha mẹ, "gốc tử đã vừa người ôm" nói bóng cha mẹ đã già rồi.

1053. Ghềnh: vực sâu, vũng biển.

1054. Trong tám câu thơ tả cảnh thực nhưng cũng để ngụ tình. Toàn bộ đoạn này là một bức tranh thiên nhiên chân thực nhưng đồng thời cũng là một phúng dụ để tả tâm trạng buồn bã, cô đơn, hãi hùng của Thúy Kiều. Là một đoạn thơ tả cảnh nổi tiếng hay trong truyện Kiều.

1056. Ý nói Kiều làm thơ.

(Theo bản Truyện Kiều – NXB Giáo dục 1984).

Truyện Kiều - Nguyễn Du (Phần thứ hai, từ câu 573 đến 906)

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều cũng là đỉnh cao thơ ca cổ điển của dân tộc. Vì vậy, Truyện Kiều luôn được nhân dân ta yêu mến…
Kieuhoc.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

alt

PHẦN THỨ HAI

GIA BIẾN VÀ LƯU LẠC

(Từ câu 573 đến câu 906)

Vương Ông mắc oan - Thúy Kiều hy sinh hạnh phúc và tình yêu, bán mình chuộc cha và em.

Tần ngần dạo gót lầu trang
Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về.
575. Hàn huyên chưa kịp giãi dề,
Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao:
Người nách thước, kẻ tay đao,
Đầu trâu, mặt ngựa ào ào như sôi.
Già giang một lão, một trai,
580. Một dây vô lại buộc hai thâm tình.
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,
Rụng rời khung dệt, tan tành gói may.
Đồ tế nhuyễn, của riêng tây,
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.
585. Điều đâu bay buộc ai làm?
Này ai đan dậm, giật giàm bỗng dưng?
Hỏi ra sau mới biết rằng:
Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ.
Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ,
590. Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây.
Hạ từ, van lạy suốt ngày,
Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn.
Rường cao rút ngược dây oan,
Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người!
595. Mặt trông đau đớn rụng rời,
Oan này còn một kêu trời, nhưng xa!
Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền!
Sao cho cốt nhục vẹn tuyền,
600. Trong khi ngộ biến tòng quyền, biết sao?
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên Tình, bên Hiếu, bên nào nặng hơn?
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con, trước phải đền ơn sinh thành.
605. Quyết tình, nàng mới hạ tình:
”Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha!”
Họ Chung có kẻ lại già,
Cũng trong nha dịch lại là từ tâm.
Thấy nàng hiếu trọng tình thâm,
610. Vì nàng, nghĩ cũng thương thầm xót vay.
Tính bài lót đó luồn đây,
Có ba trăm lạng, việc này mới xuôi.
Hãy về tạm phó giam ngoài,
Dặn nàng quy liệu trong đôi ba ngày.
615. Thương tình con trẻ thơ ngây,
Gặp cơn vạ gió tai bay bất kỳ!
Đau lòng tử biệt sinh li,
Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
620. Liều đem tấc cỏ, quyết đền ba xuân.
Sự lòng ngỏ với băng nhân,
Tin sương đồn đại xa gần xôn xao.
Gần miền có một mụ nào,
Đưa người viễn khách, tìm vào vấn danh.
625. Hỏi tên rằng: “Mã Giám sinh”,
Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao,
Trước thầy sau tớ lao xao,
630. Nhà băng đưa mối, rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng:
635. Ngại ngùng rợn gió e sương,
Nhìn hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Đắn đo cân sắc cân tài,
640. Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng lòng, khách mới tùy cơ dặt dìu.
Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”
645. Mối rằng: “Đáng giá nghìn vàng,
Rớp nhà nhờ lượng người thương dám nài!”
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.
Một lời thuyền đã êm dằm
650. Hãy đưa canh thiếp, trước cầm làm ghi.
Định ngày nạp thái vu quy,
Tiền lưng đã sẵn, việc gì chẳng xong!
Một lời cậy với Chung Công,
Khất từ tạm lĩnh Vương Ông về nhà.
655. Thương tình con trẻ, cha già,
Nhìn nàng, ông những máu sa ruột dầu:
”Nuôi con những ước về sau,
Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi.
Trời làm chi cực bấy trời!
660. Này ai vu thác, cho người hợp tan!
Búa rìu bao quản thân tàn,
Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già!
Một lần sau trước cũng là,
Thôi thì mặt khuất, chẳng thà lòng đau!”
665. Theo lời càng chảy dòng châu,
Liều mình, ông rắp gieo đầu tường vôi.
Vội vàng kẻ giữ, người coi,
Nhỏ to, nàng lại tìm lời khuyên can:
”Vẻ chi một mảnh hồng nhan,
670. Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành.
Dâng thư đã thẹn nàng Oanh,
Lại thua ả Lý bán mình hay sao?
Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,
Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.
675. Lòng tơ dù chẳng dứt tình,
Gió mưa âu hẳn tan tành nước non.
Thà rằng liều một thân con,
Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây.
Phận sao đành vậy cũng vầy,
680. Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh.
Cũng đừng tính quẩn lo quanh,
Tan nhà là một, thiệt mình là hai.”
Phải lời ông cũng êm tai,
Nhìn nhau giọt vắn, giọt dài ngổn ngang.
685. Mái ngoài, họ Mã vừa sang,
Tờ hoa đã kí, cân vàng mới trao.
Trăng già độc địa làm sao?
Cầm dây chẳng lựa, buộc vào tự nhiên!
Trong tay đã sẵn đồng tiền,
690. Dầu lòng đổi trắng, thay đen, khó gì!
Họ Chung ra sức giúp vì,
Lễ tâm đã đặt, tụng kì cũng xong.
Việc nhà đã tạm thong dong,
Tinh kì giục giã đã mong độ về.
695. Một mình nàng, ngọn đèn khuya,
Áo đầm giọt lệ, tóc xe mái sầu:
”Phận dầu, dầu vậy cũng dầu,
Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!
Công trình kể biết mấy mươi,
700. Vì ta khăng khít, cho người dở dang.
Thề hoa chưa ráo chén vàng,
Lỗi thề thôi đã phũ phàng với hoa.
Trời Liêu non nước bao xa.
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi!
705. Biết bao duyên nợ thề bồi,
Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì?
Tái sinh chưa dứt hương thề,
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.
Nợ tình chưa trả cho ai,
710. Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”!
Nỗi riêng, riêng những bàng hoàng,
Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân,
Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:
715. “Cơ trời dâu bể đa đoan,
Một nhà để chị riêng oan một mình.
Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh,
Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây”?
Rằng: “Lòng đương thổn thức đầy,
720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.
Hở môi ra cũng thẹn thùng,
Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
725. Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kì,
730. Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
735. Chiếc thoa với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau, dầu có bao giờ.
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
745. Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rẩy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gẫy bình tan,
750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao, phận bạc như vôi?
Đã đành nước chẩy hoa trôi lỡ làng.
755. Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi! thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Cạn lời hồn ngất máu say,
Một hơi lặng ngắt, đôi tay giá đồng.
Xuân huyên chợt tỉnh giấc nồng,
760. Một nhà tấp nập, kẻ trong người ngoài.
Kẻ thang, người thuốc, bời bời,
Mới dầu cơn vựng, chưa phai giọt hồng.
Hỏi: “Sao ra sự lạ lùng?”
Kiều càng nức nở, mở không ra lời.
765. Nỗi nàng, Vân mới rỉ tai:
”Chiếc thoa này với tờ bồi ở đây!”
”Này cha làm lỗi duyên mày,
Thôi thì nỗi ấy sau này đã em!
Vì ai rụng cải, rơi kim,
770. Để con bèo nổi mây chìm, vì ai?
Lời con dặn lại một hai,
Dẫu mòn bia đá, dám sai tấc vàng!”
Lạy thôi, nàng lại thưa chiềng:
”Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi.
775. Sá chi thân phận tôi đòi,
Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu!”
Xiết bao kể nỗi thảm sầu!
Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi.
Kiệu hoa đâu đã đến ngoài,
780. Quản huyền đâu đã giục người sinh li.
Đau lòng kẻ ở người đi,
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm.
Trời hôm, mây kéo tối rầm,
Rầu rầu ngọn cỏ, đầm đầm cành sương.
785. Rước nàng về đến trú phường,
Bốn bề xuân khóa, một nàng ở trong.
Ngập ngừng thẹn lục, e hồng,
Nghĩ lòng, lại xót xa lòng đòi phen:
”Phẩm tiên rơi đến tay hèn,
790. Hoài công nắng giữ, mưa gìn với ai.
Biết thân đến bước lạc loài,
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung!
Vì ai ngăn đón gió đông,
Thiệt lòng khi ở, đau lòng khi đi.
795. Trùng phùng dầu họa có khi,
Thân này thôi có còn gì mà mong!
Đã sinh ra số long đong,
Còn mang lấy kiếp má hồng được sao”?
Trên yên sẵn có con dao,
800. Giấu cầm nàng đã gói vào chéo khăn:
”Phòng khi nước đã đến chân,
Dao này thì liệu với thân sau này”.
Đêm thu một khắc một chầy,
Bâng khuâng như tỉnh như say một mình.

805. Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh,
Vốn là một đứa phong tình đã quen.
Quá chơi lại gặp hồi đen,
Quen mùi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa.
Lầu xanh có mụ Tú Bà,
810. Làng chơi đã trở về già hết duyên.
Tình cờ chẳng hẹn mà nên,
Mạt cưa mướp đắng, đôi bên một phường.
Chung lưng mở một ngôi hàng,
Quanh năm buôn phấn, bán hương đã lề.
815. Dạo tìm khắp chợ thì quê,
Giả danh hầu hạ, dạy nghề ăn chơi.
Rủi may, âu cũng tại trời,
Đoạn trường lại chọn mặt người vô duyên!
Xót nàng chút phận thuyền quyên,
820. Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn.
Mẹo lừa đã mắc vào khuôn,
Sính nghi rẻ giá, nghinh hôn định ngày.
Mừng thầm: “Cờ đã đến tay,
Càng nhìn vẻ ngọc, càng say khúc vàng.
825. Đã nên quốc sắc thiên hương,
Một cười này, hẳn nghìn vàng chẳng ngoa.
Về đây nước trước bẻ hoa,
Vương tôn quý khách ắt là đua nhau.
Hẳn ba trăm lạng kém đâu,
830. Cũng đà vừa vốn còn sau thì lời.
Miếng ngon kề đến tận nơi,
Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham.
Đào tiên đã bén tay phàm,
Thì vin cành quít, cho cam sự đời!
835. Dưới trần mấy mặt làng chơi,
Chơi hoa, đã dễ mấy người biết hoa!
Nước vỏ lựu, máu mào gà,
Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.
Mập mờ đánh lận con đen,
840. Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền, mất chi?
Mụ già hoặc có điều gì,
Liều công mất một buổi quỳ mà thôi.
Vả đây đường xá xa xôi,
Mà ta bất động, nữa người sinh nghi”.
845. Tiếc thay một đóa trà mi,
Con ong đã tỏ đường đi lối về.
Một cơn mưa gió nặng nề,
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương.
Đêm xuân một giấc mơ màng,
850. Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ.
Nỗi riêng tầm tã tuôn mưa,
Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình:
”Tuồng chi là giống hôi tanh,
Thân nghìn vàng để ô danh má hồng!
855. Thôi còn chi nữa mà mong,
Đời người thôi thế là xong một đời”!
Giận duyên, tủi phận, bời bời,
Cầm dao, nàng đã toan bài quyên sinh.
Nghĩ đi nghĩ lại một mình:
860. “Một mình thì chớ, hai tình thì sao?
Sau dù sinh sự thế nào,
Truy nguyên, chẳng kẻo lụy vào song thân.
Nỗi mình âu cũng giãn dần,
Kíp chầy thôi cũng một lần mà thôi!”
865. Những là đo đắn ngược xuôi,
Tiếng gà nghe đã gáy sôi mái tường.
Lầu mai vừa rúc còi sương,
Mã Sinh giục giã vội vàng ra đi.
Đoạn trường thay, lúc phân kỳ!
870. Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
Bề ngoài mười dặm trường đình,
Vương Ông mở tiệc tiễn hành đưa theo.
Ngoài thì chủ khách dập dìu,
Một nhà huyên với một Kiều ở trong.
875. Nhìn càng lã chã giọt hồng,
Rỉ tai, nàng mới giãi lòng thấp cao:
”Hổ sinh ra phận thơ đào,
Công cha, nghĩa mẹ, kiếp nào trả xong?
Lỡ làng nước đục, bụi trong,
880. Trăm năm để một tấm lòng từ đây.
Xem gương trong bấy nhiêu ngày,
Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già.
Khi về bỏ vắng trong nhà,
Khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng.
885. Khi ăn, khi nói lỡ làng,
Khi thầy, khi tớ xem thường, xem khinh.
Khác màu kẻ quý người thanh,
Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn.
Thôi con còn nói chi con
890. Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người!”
Vương bà nghe bấy nhiêu lời,
Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên.
Vài tuần chưa cạn chén khuyên
Mái ngoài nghỉ đã giục liền ruổi xe.
895. Xót con lòng nặng trì trì,
Trước yên ông đã nằn nì thấp cao:
”Chút thân yếu liễu, thơ đào,
Rớp nhà đến nỗi giấn vào tôi ngươi.
Từ đây góc bể bên trời,
900. Nắng mưa thui thủi quê người một thân.
Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân,
Tuyết sương che chở cho thân cát đằng”.
Cạn lời khách mới thưa rằng:
Buộc chân, thôi cũng xích thằng nhiệm trao.
905. Mai sau dầu đến thế nào,
Kìa gương nhật nguyệt, nọ dao quỷ thần”.

N.D

______________
574. Ngoại hương: làng ngoại, quê ngoại.

575. Giãi dề: giải bày, trò truyện.

576. Sai nha: nha lại do quan trên sai phái đi.

577. Thước: tay thước, một thứ võ khí cổ, bằng gỗ, dài độ một thước tây, cạnh vuông bốn góc, dùng để đánh người.

Nách thước: nách cắp tay thước.

Đao: dao to, mã tấu, thứ võ khí bằng sắt, lưỡi to.

579. Già: cái gông. Giang: khiêng đi, giải đi. Ở đây nói cha con (Viên ngoại và Vương Quan) bị đóng gông lại.

580.Thâm tình: tình sâu. Hai thâm tình: chỉ hai cha con (Vương Ông và Vương Quan).

583. Tế nhuyễn: nhỏ bé, mềm mại, chỉ chung những đồ vàng ngọc quí giá và trang sức, quần áo dễ mang đi.

586. Dậm: một dụng cụ đánh cá.

Giàm: bẫy đánh loài vật. “Giật giàm” tức giật cạm, sập bẫy Ý nói vu oan giá họa.

588. Xưng xuất: xưng ra, khai ra.

590. Loà mây: như nói làm mờ cả bầu trời. Ý nói: một vụ án hết sức oan uổng.

594. Hạ từ: hạ lời, nói lời hạ mình để kêu cầu van xin.

Lân tuất: thương xót, thương tình. Ý cả câu: tụi sai nha cứ phũ tay đánh đập, mặc những lời kêu van của nhà Kiều, chúng chỉ làm điếc làm ngơ.

593. Rường cao: thanh rường nhà bắc ở trên cao. Dây oan: Dây trói oan uổng. Tụi sai nha trói và treo ngược hai cha con họ Vương lên rường nhà.

599. Cốt nhục: ruột thịt, chỉ Vương Ông và Vương Quan.

600. Ngộ biến tòng quyền: gặp cảnh biến phải theo đạo "quyền" (không thể giữ nguyên đạo "kinh" như lúc bình thường được). Ý nói: Phải tuỳ theo hoàn cảnh mà xử sự cho thích hợp.

601. Hội ngộ: gặp gỡ gắn bó nhau. Chỉ mối tình duyên giữa Kiều với Kim Trọng.

Cù lao: công ơn sinh dưỡng khó nhọc của cha mẹ.

603. Thệ hải minh sơn: chỉ non thề bể.

604. Sinh thành: công ơn cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng nên người.

605. Hạ tình: tỏ bày ý nghĩ.

606. Rẽ cho: lời gạt đi ý kiến những người khác để nói lên ý kiến của mình một cách cương quyết.

607. Lại già: người nha lại già.

608. Nha dịch: người làm việc ở nơi nha môn, tức nơi công sở của các phủ huyện, cũng như nói “nha lại”.

614. Quy liệu: thu xếp, lo liệu.

617. Tử biệt sinh ly: Chết rồi vĩnh biệt nhau gọi là "tử biệt", sống mà xa lìa nhau gọi là "sinh ly". Đó là hai cảnh thương tâm lớn của đời người. Tuy là hai cảnh, nhưng người ta thường dùng làm một thành ngữ, để nói chung cho người gặp cảnh "tử biệt" cũng như người gặp cảnh "sinh ly".

619. Hạt mưa: Chỉ thân phận người con gái

Ca dao:

Thân em như hạt mưa sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng lầy.

620. Tấc cỏ, ba xuân: Do chữ thốn thảo, tam xuân. Bài thơ tả tình đi chơi xa nhớ mẹ của Mạnh Giao đời Đường có câu: Dục tương thốn thảo tâm, báo đáp tam xuân huy (Ai bảo cái lòng của ngọn cỏ một tấc (ngọn cỏ ngắn) báo đáp được ánh sáng ấm áp của ba tháng xuân). Tấc cỏ: ví với người con. Ba xuân: ví với công ơn cha mẹ.

621. Băng nhân: người làm mối.

622. Tin sương: Do chữ sương tin. Theo sách Ngũ kim câu trầm: khi tiết trời bắt đầu có sương lạnh, thì chim nhạn ở phương bắc bay xuống phương nam. Có sương thì có nhạn, mà có nhạn thì có sương, sương và nhạn ứng theo thời tiết với nhau, nên nói tin sương là ngụ ý chỉ tin tức truyền đi.

624. Viễn khách: khách phương xa.

Vấn danh: một trong sáu hôn lễ thời xưa. Nhà trai hỏi tên người con gái.

625. Giám sinh: sinh viên học tại Quốc tử giám, một thứ trường đại học của triều đình phong kiến, lập ở kinh đô để đào tạo người ra làm quan.

626. Lâm Thanh: Một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc).

627. Tử tuần: bốn mươi tuổi (mỗi một tuần là mười tuổi).

630. Nỗi mình: nỗi riêng của mình, chỉ cuộc tình duyên dở dang với Kim Trọng. Nỗi nhà: nỗi tai vạ của toàn gia đình họ Vương.

644. Sinh nghi: đồ dẫn cưới, tiền dẫn cưới.

645. Nghìn vàng: đời Hán, một nghìn vàng tức là một cân vàng, sau dùng để chỉ nghìn lạng vàng.

646. Rớp nhà: hoạn nạn trong nhà, nhà gặp lúc hoạn nạn.

649. Êm dằm: ý nói sự việc đã lo lót xong xuôi, êm thấm, giống như chiếc thuyền đã đứng êm dằm, không còn tròng trành nữa.

650. Canh thiếp: lá thiếp biên tên, tuổi (nhân trong thiếp có biên tuổi, tức niên canh, nên gọi là canh thiếp). Theo hôn lễ xưa, khi bắt đầu dạm hỏi, nhà trai, nhà gái trao đổi canh thiếp của trai gái để đính ước với nhau.

651. Nạp thái: đây dùng chỉ lệ dẫn đồ cưới, tiền cưới.

Vu qui: về nhà chồng. Đây dùng chỉ lệ đón dâu.

654. Khất tử: đơn xin (Nhà Kiều làm đơn xin tạm tha cho Vương ông).

658. Gieo cầu: theo sách Tam hợp bảo kiếm: Hán Vũ đế kén phò mã, cho công chúa ngồi lên lầu, ném quả cầu xuống, ai cướp được thì làm phò mã.

660. Vu thác: vu là đổ tội cho, thác là đặt điều ra.

669. Một mảnh hồng nhan: như nói một mụn con gái (mảnh là ý nói khinh khí).

671. Nàng Oanh: nàng Đề Oanh. Theo Liệt nữ truyện: Đề Oanh người đời Hán, khi cha nàng là Thuấn Vu Ý, phạm tội, bị hạ ngục ở Tràng An, chờ ngày hành hình, Đề Oanh dâng thư lên vua Văn Đế, xin nộp mình làm giá hầu cho các nhà quan để chuộc tội cho cha, Văn Đế cảm động, xuống chiếu tha cho cha nàng.

672. Ả Lí: Nàng Lí Kí. Theo sách Đường dại tùng thư: Lí Kí đời Đường, nhà nghèo, tự nguyện bán mình cho người làng đem cúng thần rắn để lấy tiền nuôi cha mẹ. Về sau nàng chém chết thần rắn, rồi lấy vua Việt Vương.

673. Cỗi xuân: gốc cây xuân, chỉ người cha.

Tuổi hạc: tuổi con chim hạc, như nói tuổi thọ. Lục Cơ Mao thi sớ: Chim hạc sống lâu một nghìn năm.

675. Lòng tơ: tấm lòng thương con vương vấn không dứt.

676. Nước non: chỉ cơ nghiệp nhà (nước non cũng như nói giang sơn).

678. Hoa dù rã cánh: nói Kiều bán mình, cuộc đời phải tan tác.

Lá còn xanh cây: tức cây còn xanh lá, nói Vương Ông được tha.

679. Cũng vầy: cũng vậy, cũng thế thôi.

680. Đậu: một cái hoa kết được thành quả, hay một cái quả giữ được đến lúc chín, không bị nửa chừng rụng đi, thì người ta gọi là cái hoa đậu, cái quả đậu. Cả câu: Ý nói cũng xem như là đã chết ngay từ lúc còn nhỏ tuổi.

687. Trăng già: chỉ “ông Tơ” xe duyên.

691. Giúp vì: giúp đỡ.

692. Lễ tâm: lễ vật của dân sự "thành tâm" đem đút lót cho bọn quan lại.

Tụng kỳ: kỳ xử kiện, tức phiên xử án.

694. Tinh kì: người ta thường dùng chữ tinh kì để chỉ cái ngày thành hôn, vì theo hôn lễ xưa, người ta đón dâu vào buổi tối.

697. Dầu: cũng như nghĩa đành (dầu lòng, đành lòng).

698. Một lời: một lời thề nguyền. Ý Kiều nói: Số phận ra sao cũng đành, nhưng chỉ đau lòng là trót đeo đẳng lời thề với Kim Trọng.

703. Trời liêu: Liêu Dương.

707. Tái sinh: một kiếp sống nữa, kiếp sau cũng như nói lai sinh

Hương thề: mảnh hương thề nguyền.

708. Trâu ngựa: Theo thuyết luân hồi nhà Phật: Người nào kiếp này mắc nợ ai mà chưa trả được, thì kiếp sau phải hoá làm thân trâu ngựa nhà người ta để đền trả cho xong.

Nghì: tức là chữ "nghĩa" được đọc chệch ra.

Trúc mai: tình nghĩa bền chặt thân thiết như cây trúc, cây mai thường được trồng gần nhau.

710. Khối tình: Tình sử: Xưa có một cô gái yêu một người lái buôn. Người lái buôn đi mãi chưa về, cô ta ốm tương tư mà chết. Khi hoả táng, quả tim kết thành một khối rắn, đốt không cháy, đập không vỡ. Sau người lái buôn trở về, thương khóc, nước mắt nhỏ vào khối ấy liền tan ra thành huyết.

Tuyền đài: nơi ở dưới suối vàng, tức nơi ở của người chết.

711. Bàn hoàn: ở đây có nghĩa là nghĩ quanh, nghĩ quẩn mãi không dứt.

713. Giấc xuân: giấc ngủ ngon lành.

715. Cơ trời: tức thiên cơ, máy trời, máy tạo hóa.

Dâu bể: cũng như "bể dâu".

Đa đoan: nhiều mối, nhiều việc (hàm ý rắc rối lôi thôi).

717. Nhẫn: tiếng cổ. Ở đây có hai nghĩa là suốt đến, suốt tới.

726. Keo loan: do chữ loan giao, tức thứ keo chế bằng máu chim loan. Tương truyền người xưa thường dùng để nối dây đàn và dây cung. Sách Hàn Vũ ngoại truyện chép: Đời Hán miền Tây Hải tiến thứ “loan giao”, Vũ Đế đứt dây cung, lấy loan giao nối lại, dây liền hẳn, rồi bắn suốt ngày mà không đứt.

Mối tơ thừa: ví dây tơ tình với dây đàn, dây tơ tình bị đứt.

723. Lời non nước: Lời thề nguyền chỉ non thề bể.

734. Chín suối: do chữ cửu tuyền, chỉ nơi suối vàng.

735. Tờ mây: tờ giấy vẽ mây, tức tờ giấy ghi lời thề nguyền của Kim, Kiều.

740. Mảnh hương nguyền: những mảnh gỗ thơm đã đốt dở trong cuộc thề nguyền của Kim, Kiều. Thời xưa, khi thề nguyền với nhau, người ta thường đốt hương.

746. Bồ liễu: một loài dương ưa mọc gần nước (dương cũng giống như liễu, chỉ khác dương thì cành cứng mà mọc đâm lên, còn liễu thì cành mềm mọc rủ xuống), cây bồ liễu rụng lá sớm hơn hết các loài cây, vì cái thể chất yếu đuối đó nên trong văn cổ thường dùng để ví với người phụ nữ.

747. Dạ dài: đài đêm tối, nghĩa bóng là cõi chết.

749. Trâm gẫy bình tan: thơ Bạch Cư Dị, đời Đường: Bình truỵ trâm chiết thị hà như, tự thiếp kim triêu dữ quân biệt. (Cái cảnh bình rơi trâm gãy là thế nào? nó giống như cảnh biệt li của thiếp với chàng buổi sáng nay). Đây dùng chỉ cuộc tình duyên tan vỡ.

751. Tình quân: người tình, cũng như tình lang.

753. Phận bạc: chính nghĩa là phận mỏng, tức bạc mệnh.

759. Xuân huyên: xuân đường, huyên đường, tức cha mẹ.

762. Dầu: nguôi, dịu. Vựng: cơn ngất, bất tỉnh nhân sự.

Giọt hồng: giọt nước mắt có máu, giọt lệ thảm.

769. Nói tình duyên nửa chừng bị chia lìa, tan vỡ.

772. Mòn bia đá: chỉ một khoảng thời gian rất lâu.

Tấc vàng: tấc lòng bền vững như vàng.

773. Chiềng: trình, tiếng cổ.

775. Tôi đòi: ở đây chỉ sự làm lẽ mọn người ta.

778. Nam lâu: lầu phía nam, chỉ cái gác canh gần nơi Kiều ở.

Mấy hồi: mấy hồi trống canh, ý nói trời đã gần sáng.

780. Quản huyền: chính nghĩa là ống trúc và dây đàn, thường dùng chỉ sáo và đàn. Đây nói họ Mã đưa các đồ âm nhạc đến đón dâu (Kiều).

782. Đại ý cả câu: giọt lệ rơi xuống, có thể thấm qua cả đá, mối tình dứt ra, như tơ ruột rút ra, có thể làm chết rũ cả con tằm.

785. Trú phường: chỗ phố trọ, nhà trọ.

787. Lục hồng: màu lá xanh, màu hoa đỏ thường dùng để chỉ sắc đẹp của phụ nữ, đây chỉ Thúy Kiều.

788. Nghĩ lòng: nghĩ riêng trong lòng.

Đòi phen: nhiều phen, nhiều lúc.

789. Phẩm tiên: của trên cõi tiên. Hèn: Hèn hạ, tục tằn.

790. Nắng giữ mưa gìn: ý nói giữ gìn sự trong sạch của thiếu nữ.

795. Trùng phùng: gặp gỡ lại.

799. Yên: cái án, một loại bàn cổ, chân cao.

806. Phong tình: phóng đãng, ăn chơi.

809. Lầu xanh: do chữ thanh lâu: Cái lầu sơn mầu xanh. Chữ thanh lâu nguyên chỉ lầu ở của phái quyền quí hay vua chúa, hoặc chỉ lầu ở của mĩ nhân. Về sau thanh lâu mới có nghĩa là nhà hát, nhà điếm.

810. Làng chơi: thuộc loại gái điếm, gái làng chơi.

812. Mạt cưa mướp đắng: chuyện cổ tích: "Một người lấy mạt cưa làm cám, đợi lúc nhá nhem tối, đem ra chợ bán, lại gặp một người đem mướp đắng giả làm dưa chuột ra bán. Hai người bán lẫn cho nhau, thế là bợm lại mắc bợm". Đây nói Mã Giám sinh và Tú bà cùng là phường bịp bợm, lừa dối.

814. Buôn phấn bán hương: mua những con gái ở các nơi về làm gái điếm. Phấn và hương là hai thứ nữ giới dùng để trang điểm, nên mượn để chỉ chung nữ giới.

Đã lề: ý nói đã thành nề nếp, đã quen nghề.

815. Chợ: Kẻ chợ, tức nơi thành thị, đô hội. Khắp chợ thì quê: Lối nói cổ, có nghĩa là: khắp chợ cùng quê, khắp vùng kẻ chợ đến miền thôn quê.

816. Giả danh hầu hạ: mượn tiếng là tìm nàng hầu, vợ lẽ để về hầu hạ.

Dạy nghề ăn chơi: dạy nghề làm gái điếm kiếm tiền.

819. Thuyền quyên: óng ả, xinh đẹp, dùng để chỉ người phụ nữ xinh đẹp.

822. Nghinh hôn: đón dâu.

823. Cờ đến tay: tục ngữ: “Cờ đến tay ai, người nấy phất” để nói ý nghĩ của Mã: Kiều đã vào tay mình rồi muốn làm gì thì làm.

824. Vẻ ngọc: vẻ mặt đẹp như ngọc.

Khúc vàng: khúc lòng.

826. Câu này do chữ nhất tiểu thiên kim: một nụ cười của người đẹp đáng giá nghìn vàng.

828. Vương tôn: chỉ con cháu các nhà quí tộc.

834. Có lẽ chữ “quýt” cũng như chữ “cam”, chỉ là chỗ chơi chữ cho văn thêm màu sắc. Câu này ý nói: Đào tiên đã tới tay, thì vin cành bẻ phắt đi, cho thoả sự đời.

835. Dưới trần: như nói trong cõi đời, ở đời. Mấy mặt: Mấy người (ý khinh bỉ).

839. Con đen: đen đầu. Con đen: những người còn trẻ tuổi mà khờ dại, đây chỉ những khách chơi không sành sỏi.

845. Trà mi: một thứ hoa nở về mùa xuân đầu hạ, hoa mầu vàng nhạt.

850. Đuốc hoa: đuốc hoa, nến hoa thắp trong đêm tân hôn.

858. Quyên sinh: bỏ đời sống, tự tử.

860. Hai tình: chỉ cha mẹ.

862. Truy nguyên: tìm đến căn nguyên, gốc rễ của sự việc.

864. Một lần: một lần chết. Kiều nghĩ: chóng hay chậm, cũng một lần chết, nếu bây giờ nàng chết đi tất liên luỵ đến cha mẹ.

866. Gáy sôi:: gáy ầm ỹ, dồn dập. Chữ "sôi" có hàm ý giục giã.

867. Lầu mai: chòi canh về sáng.

Còi sương: tiếng tù và thổi lúc sớm tinh sương.

869. Đoạn trường: đứt ruột có nghĩa đau đớn quá (như dứt từng khúc ruột).

Phân kỳ: chia đường, chia lìa mỗi người mỗi ngả như nói "chia tay".

870. Vó câu: Vó ngựa (Câu: ngựa non đang sức lớn).

871. Trường đình: đời Tần, Hán, người ta chia đường ra từng cung, cứ năm dặm là một cung ngắn, có một cái quán, gọi là "đoản đình" (quán ngắn) mười dặm là một cung dài, lại có một cái quán nữa gọi là "trường đình" (quán dài). Tục cổ, chủ thường tiễn khách ra khỏi mười dặm đường làm tiệc tiến hành ở trường đình rồi mới trở về.

873. Chủ khách: chỉ Vương ông Mã Giám sinh.

877. Thơ đào: đây có nghĩa là con gái ít tuổi, ngây thơ.

886. Thầy tớ: chỉ Mã và bọn tôi tớ Mã.

893. Tuần: tuần rượu, mỗi chén rượu đôi bên cùng uống cạn là một tuần.

Chén khuyên: chén khuyên mời, đây là chén rượu tiễn.

894. Nghỉ: nó, hắn, y, thổ âm Nghệ Tĩnh, đây chỉ Mã.

986.Trước yên: trước yên ngựa của Mã.

897. Yếu liễu thơ đào: Ý nói Kiều còn yếu ớt thơ dại, ví như cây liễu yếu, cây đào non.

899. Góc bể chân trời: Do chữ hải giác thiên nhai: Góc biển cả, chỗ cùng nận bầu trời ý nói xa xôi hết sức.

901. Tầm: một đơn vị đo lường cổ của Trung Quốc, dài tám thước.

Nghìn tầm: 8000 thước, nghĩa bóng: cao lắm!

Tùng quân: Tùng là cây thông, một thứ cây cao lớn, thân thẳng và cứng cáp, mùa đông lá cây vẫn xanh tươi, trong văn cổ, thường dùng để tượng trưng cho người trượng phu. Quân là cây trúc, dóng thẳng đốt ngang, thân rỗng mà không cong queo, thường dùng để tượng trưng cho người quân tử.

902. Tuyết sương che chở: tức che chở cho khỏi tuyết sương.

Cát đằng: dây sắn, một loại dây phải leo bám vào những cây to, người ta thường nói "cát đằng" "cát luỹ" hay "sắn bìm" để chỉ người vợ thiếp.

904. Nhiệm trao: trao cho một cách màu nhiệm thiêng liêng. Đây Mã Giám Sinh lừa phỉnh Vương Ông, giả bộ thề thốt, cho việc “kết tóc xe tơ” với Kiều là một việc thiêng liêng, màu nhiệm trời đất đã trao, chứ không phải việc thường.

906. Câu này là lời thề. Ý câu này với câu trên; Nếu sau này ăn ở không ra làm sao sẽ có mặt trời, mặt trăng soi tỏ tội lỗi, có gươm đao quỷ thần trừng phạt.


(Theo bản Truyện Kiều – NXB Giáo dục 1984).

Truyện Kiều - Nguyễn Du (Phần thứ nhất, từ câu 363 đến câu 572)

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều cũng là đỉnh cao thơ ca cổ điển của dân tộc. Vì vậy, Truyện Kiều luôn được nhân dân ta yêu mến…
Kieuhoc.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.




PHẦN THỨ NHẤT

GẶP GỠ VÀ ĐÍNH ƯỚC
(Tiếp theo từ câu 363 đến câu 572)


Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng tự tình và thề nguyền


Từ phen đá biết tuổi vàng,

Tình càng thấm thía lòng càng ngẩn ngơ.

365. Sông Tương một dải nông sờ,

Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia

Một tuồng tuyết trở sương che

Tin xuân đâu dễ đi về cho năng!

Lần lần ngày gió đêm trăng,

370. Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.

Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,

Trên hai đường dưới nữa là hai em,

Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,

Biện dâng một lễ, xa đem tấc thành.

375. Nhà lan thanh vắng một mình

Gẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay.

Thì trân thức thức sẵn bày,

Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mai tường.

Cách hoa sẽ dắng tiếng vàng,

380. Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông:

“Trách lòng hờ hững với lòng,

Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu!

Những là đắp nhớ, đổi sầu,

Tuyết sương nhuộm nửa mái đầu hoa râm”.

385. Nàng rằng: “Gió bắt mưa cầm.

Đã cam tệ với tri âm bấy chầy.

Vắng nhà được buổi hôm nay,

Lấy lòng gọi chút sang đây tạ lòng!”

Lần theo núi giả đi vòng,

390. Cuối tường nhường có nẻo thông mới rào,

Xắn tay mở khóa Đông Đào,

Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai.

Mặt nhìn mặt, càng thêm tươi,

Bên lời vạn phúc, bên lời hàn huyên.

395. Sánh vai về chốn tư hiên,

Ngậm lời phong nguyệt, nặng nguyền non sông.

Trên yên, bút giá thi đồng,

Đạm thanh một bức trang tùng treo trên.

Phong sương đượm vẻ thiên nhiên,

400. Mặn khen nét bút càng nhìn càng tươi,

Sinh rằng: “Phác họa vừa rồi,

Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa!”

Tay tiên gió táp mưa sa

Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.

405. Khen: “Tài nhả ngọc phun châu,

Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này!

Kiếp tu xưa ví chưa dày,

Phúc nào đổi được giá này cho ngang!”

Nàng rằng: “Trộm liếc dung quang,

410. Chẳng sân bội ngọc cũng phường kim môn.

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,

Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?

Nhớ từ năm hãy thơ ngây,

Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:

415. Anh hoa phát tiết ra ngoài,

Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Trông người lại ngẫm đến ta,

Một dầy, một mỏng, biết là có nên?”

Sinh rằng: “Giải cấu là duyên,

420. Xưa nay nhân định thắng nhiên cũng nhiều.

Ví dù giải kết đến điều,

Thì đem vàng đá mà liều với thân!”

Đủ điều trung khúc ân cần,

Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng.

425. Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,

Trông ra ác đã ngậm gương non đoài.

Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,

Giã chàng, nàng mới kíp dời song sa .

Đến nhà vừa thấy tin nhà,

430. Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.

Cửa ngoài vội rủ rèm the,

Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.

Nhặt thưa, gương giọi đầu cành,

Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.

435. Sinh vừa tựa án thiu thiu,

Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê.

Tiếng sen sẽ động giấc hòe,

Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.

Bâng khuâng đỉnh Giáp, non Thần,

440. Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.

Nàng rằng:” Quãng vắng đêm trường,

Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.

Bây giờ rõ mặt đôi ta,

Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”

445. Vội mừng làm lễ rước vào,

Đài sen nối sáp, song đào thêm hương.

Tiên thề cùng thảo một trương,

Tóc mây một món, dao vàng chia đôi.

Vầng trăng vằng vặc giữa trời,

450. Đinh ninh hai mặt một lời song song.

Tóc tơ căn vặn tấc lòng,

Trăm năm tạc một chữ “đồng” đến xương .

Chén hà sánh giọng quỳnh tương,

Giải là hương lộn, bình gương bóng lồng.

455. Sinh rằng: “Gió mát trăng trong,

Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam.

Chày sương chưa nện cầu Lam,

Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?”

Nàng rằng: “Hồng diệp, xích thằng,

460. Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri.

Đừng điều nguyệt nọ hoa kia,

Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai”.

Rằng: “Nghe nổi tiếng Cầm đài,

Nước non luống những lắng tai Chung Kì”.

465. Thưa rằng: “Tiện kĩ sá chi!

Đã lòng dạy đến, dạy thì phải vâng”.

Hiên sau treo sẵn cầm trăng,

Vội vàng Sinh đã tay nâng ngang mày.

Nàng rằng: “Nghề mọn riêng tay,

470. Làm chi cho bận lòng này lắm thân?”

So dần dây vũ dây văn,

Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.

Khúc đâu Hán Sở chiến trường,

Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau.

475. Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,

Nghe ra như oán như sầu phải chăng!

Kê Khang này khúc Quảng Lăng,

Một rằng Lưu Thủy, hai rằng Hành Vân.

Qúa quan này khúc Chiêu Quân,

480. Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.

Trong như tiếng hạc bay qua,

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

485. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,

Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.

Khi tựa gối, khi cúi đầu,

Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày .

Rằng: “Hay thì thật là hay,

490. Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!

Lựa chi những bậc tiêu tao,

Dột lòng mình, cũng nao nao lòng người?”

Rằng: “Quen mất nết đi rồi,

Tẻ vui, thôi cũng tính trời biết sao!

495. Lời vàng, vâng lĩnh ý cao,

Họa dần dần bớt chút nào được không”.

Hoa hương càng tỏ thức hồng,

Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu.

Sóng tình dường đã xiêu xiêu,

500. Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.

Thưa rằng: “Đừng lấy làm chơi,

Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!

Vẻ chi một đóa yêu đào,

Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh .

505. “Đã cho vào bậc bố kinh,

Đạo tòng phu lấy chữ Trinh làm đầu.

Ra tuồng trên Bộc, trong dâu,

Thì con người ấy ai cầu làm chi!

Phải điều ăn xổi ở thì,

510. Tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày!

Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,

Lứa đôi ai đẹp lại tày Thôi, Trương.

Mây mưa đánh đổ đá vàng,

Quá chiều nên đã chán chường yến anh.

515. Trong khi chắp cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.

Mái tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.

Gieo thoi, trước chẳng giữ giàng,

520. Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai ?

Vội chi liễu ép hoa nài,

Còn thân ắt lại đền bồi có khi!

Thấy lời đoan chính dễ nghe,

Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân.

525. Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân.

Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào.

Nàng thì vội trở buồng thêu,

Sinh thì dạo gót sân đào vội ra.

Cửa ngoài vừa ngỏ then hoa,

530. Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang.

Đem tin thúc phụ từ đường,

Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề.

Liêu Dương cách trở sơn khê,

Xuân đường kíp gọi Sinh về hộ tang.

535. Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng,

Băng mình lẻn trước đài trang tự tình.

Gót đầu mọi nỗi đinh ninh,

Nỗi nhà tang tóc, nỗi mình xa xôi:

”Sự đâu chưa kịp đôi hồi,

540. Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ,

Trăng thề còn đó trơ trơ,

Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng.

Ngoài nghìn dặm, chốc ba đông,

Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy!

545. Gìn vàng giữ ngọc cho hay,

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời!”

Tai nghe ruột rối bời bời,

Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau:

”Ông tơ ghét bỏ chi nhau,

550. Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi!

Cùng nhau trót đã nặng lời,

Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ!

Quản bao tháng đợi, năm chờ,

Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm.

555. Đã nguyền hai chữ “đồng tâm”,

Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.

Còn non, còn nước, còn dài,

Còn về, còn nhớ đến người hôm nay!”

Dùng dằng chưa nỡ rời tay,

560. Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà.

Ngại ngùng một bước một xa,

Một lời trân trọng, châu sa mấy hàng.

Buộc yên, quảy gánh, vội vàng,

Mối sầu xẻ nửa, bước đường chia hai.

565. Buồn trông phong cảnh quê người,

Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa.

Não người cữ gió, tuần mưa,

Một ngày nặng gánh tương tư một ngày...

Nàng còn đứng tựa hiên tây,

570. Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ.

Trông chừng khói ngất song thưa,

Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng.

______
363. Đá biết tuổi vàng: Muốn xem vàng bao nhiêu tuổi, xấu tốt thế nào, người ta thường dùng thứ đá cuội đen để thử, gọi là hòn đá thử vàng. Ý nói qua sự trao đổi, Kim-Kiều đã hiểu biết và yêu nhau, như đá biết rõ tuổi vàng.

365. Sông Tương: Hai câu này lấy ý ở bài thơ trong Tình sử:

" Quan tại Tương Giang đầu,
Thiếp tại Tương Giang vĩ,
Tương tư bất tương kiến,
Đồng ẩm Tương Giang thuỷ"

Dịch nghĩa:

Chàng ở đầu sông Tương,
Thiếp ở cuối sông Tương,
Nhớ nhau mà chẳng thấy nhau,
Cùng uống nước sông Tương.

367. Tuyết trở sương che: ý nói bức tường của nhà Kiều với nhà Kim Trọng như có tuyết sương ngăn trở, che khuất hai người.

370. Thư hồng rầm lục: màu đỏ giảm, màu xanh tăng. Ý nói hoa tàn đần, lá nảy nở, mùa xuân sắp qua, mùa hè sắp tới.

372. Hai đường: song đường (xuân đường và huyền đường), chỉ cha mẹ.

375. Nhà lan: nhà có mùi thơ hoa lan, thanh nhã

377. Thì trân: thức ăn quý đương mùa. Tục xưa, trai gái gặp nhau đem theo hoa quả, thức ăn... cùng nhau ăn uống trong lúc chuyện trò.

382. Lửa hương: do chữ hương hỏa. Tục cổ khi làm lễ thề ước với nhau, thường đốt đèn thắp hương. Về sau hai chữ này thường dùng để chỉ tình duyên vợ chồng.

384. Hoa râm: hoa cây râm, sắc trắng, ví mái tóc lốm đốm bạc trông như những chấm hoa râm.

386. Tri âm: hiểu biết tiếng đàn của nhau như Chung Tử Kì đời cổ Xuân Thu hiểu tâm hồn của Bá Nha qua tiếng đàn của bạn. . Khi Tử Kì chết, Bá Nha dứt dây, đập đàn nói không ai hiểu biết tiếng đàn của mình nữa. Tri âm, tri kỉ nghĩa rộng là bạn bè thân thiết, hiểu nhau.

389. Núi giả: tức là núi non bộ ở sân nhà Kim Trọng.

391. Động đào: tức động Đào nguyên.

392. Thiên thai: tên một núi ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Tương truyền đời Hán, Lưu Thần và Nguyễn Triệu lên núi Thiên Thai hái thuốc, gặp tiên nữ rồi cùng nhau kết duyên ở đấy.

394. Vạn phúc: lời chào hỏi chúc mừng khi gặp nhau. Hàn thuyên: lạnh ấm, lời hỏi thăm sức khỏe.

396. Phong nguyệt: lời thơ trăng gió vui chơi. Non sông: lấy núi sông mà nguyền ước (sông cạn, núi mòn, lời thề cũng không thay đổi).

397. Yên: bàn sách, Bút giá: Cái giá để gác bút. Thi đồng: Cái ống đựng thơ.

398. Đạm thanh: màu xanh nhạt, chỉ màu bức tranh cây thông của Kim Trọng.

399. Phong sương: gió và sương. Bức tranh cây thông vẽ rất tự nhiên như có đượm cả phong sương.

402. Phẩm đề: đề lời bình, lời vịnh cho bức tranh. Thêm hoa: thêm vẻ đẹp. Ý nói bức tranh mới vẽ xong, xin đề mấy vần thơ cho tăng thêm vẻ đẹp.

403. Tay tiên: tay giỏi thơ như bậc thần tiên. Cả câu ý nói Kiều đề thơ mau lẹ.

405. Nhả ngọc phun châu: tài xuất khẩu thành thơ hay, như nhả ra ngọc, phun ra châu.

406. Nàng Ban: Nàng Ban Chiêu, đời Đông Hán. Nàng học rộng tài cao, được vua Hán vời đến tòa Đông Các (tòa chứa sách) hoàn thành nốt pho sử Hán thư do người anh là Ban Cổ soạn chưa xong thì đã chết.

Ả Tạ: Nàng Tạ Đạo Uẩn, đời Tấn, là người thông minh, có học thức, có tài biện luận.

409. Dung quang: diện mạo con người

410. Ngọc bội: Đồ đeo bằng ngọc. Chữ dùng chỉ chung người đã hiển đạt và có quan chức.

Kim môn: tức Kim mã môn nói tắt, tên cửa cung Vị Ương của vua nhà Hán (cửa cung có để tượng ngựa đồng nên gọi là Kim mã). Đời Hán Vũ Đế, thường cho những người có văn tài đến đợi ở đây, để chờ nhà vua hỏi han về chính sự. Trong câu ý Kiều muốn nói Kim Trọng nếu không phải là người đã có quan chức cao quý thì cũng là bậc có văn tài sẽ được nhà vua trọng dụng.

412. Khuôn xanh: ũcng như khuôn thiêng, sự sắp đặt của trời.

414. Tướng sĩ: thày xem tướng số.

415. Anh hoa: tinh hoa tốt đẹp.

419. Giải cấu: cuộc gặp gỡ tình cờ.

420. Nhân định thắng thiên: Ý người ta cũng có thể làm thay đổi được cả số trời.

421. Giải kết: Cởi mối buộc. Ý nói nếu nhân duyên bị chia rẽ thì quyết liều thân để giữ trọn lời thề.

423. Trung khúc: uẩn khúc ở trong lòng, tâm sự.

424. Tàng tàng: say, ngà ngà.

425. Giang: gang tay. Ý nói ngày ngắn lắm.

428. Song sa: cửa sổ có che vải sa, cũng như song the. Chữ song sa ở đây chỉ phòng ở của Kiều.

430. Hai thận: cha mẹ, do chữ song thân, tức thân phụ (cha) và thân mẫu (mẹ).

433. Nhặt thưa: mau và thưa, chỉ ánh trăng. Ánh trăng giọi bóng cành lá cây xuống làm cho mặt đất chỗ sáng, chỗ tối.

434. Trướng huỳnh: trướng là cái màn, huỳnh là con đom đóm. Đời Tấn, Xa Dận ham học, nhà nghèo, đêm khôn có đèn, phải bắt con đom đóm đựng vào túi lụa thưa để mà đọc sách.  Ở đây chỉ phòng học của Kim Trọng.

435. Án: tức là án sách, loại bàn học của thư sinh thời xưa (mặt bàn hẹp và dài, chân bàn cao).

437. Tiếng sen: tiếng bước chân của người đẹp, Đông Hôn Hầu, đời Tề (Nam Bắc Triều) rất yêu quý nàng phi họ Phan, bèn cho đúc hoa sen bằng vàng lát xuống nền nhà, để cho nàng đi, rồi khen: mỗi bước đi nở ra một hoa sen. Giấc hoè: Theo sách Nam kha ký: Thuần Vu Phần đời Đường, ngày sinh nhật, uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cay hoè già ở phía nam nhà ông, liền mộng thấy đến một nước gọi là "Đại Hoè An", được vua nước ấy gả công chúa, và cho làm quan Thái thú quận Nam Kha, vinh hiển hơn hai mươi năm. Khi tỉnh dậy, chỉ thấy dưới gốc hoè một tổ kiến lớn, trong có con kiến chúa, mới hiểu đó là nước và vua Hoè An (gốc hoè yên ổn), còn Nam Kha tức là cành hoè phía nam nhằm thẳng xuống tổ kiến. Do đó, người ta nói "giấc Nam kha" hay "giấc hoè" để chỉ cuộc phú quý hư ảo. Ở đây chỉ giấc mộng, giấc ngủ.

438. Đây nói: Kim Trọng sực tỉnh thấy ánh trăng đưa bóng hoa lê tới gần. Chữ “hoa lê” tuy tả cái bóng hoa, nhưng cũng ngụ ý một người đẹp.

439. Đỉnh Giáp: Đỉnh núi Vu Giáp (hay Vu Sơn, một núi cao có nhiều cảnh đẹp, thuộc tỉnh Tứ xuyên, Trung Quốc).
Cao Đường phú: Vua Sở Hoài Vương đi chơi quán Cao Đường, mộng thấy một người đàn bà đẹp, và tự xưng là thần núi Vu Sơn, sớm làm mây, chiều làm mưa. Do tích này, người ta thường dùng chữ "mây mưa" để chỉ việc ân ái giữa trai gái.

Non thần: núi Thần Nữ. Đây nói Kim Trọng mới tỉnh dậy, còn bâng khuâng mơ màng về cuộc hội ngộ với Kiều như truyện Sở Hoài Vương với thần nữ Vu Giáp (chỉ ngụ ý hội ngộ, mơ màng., chứ không ngụ ý ái ân trai gái).

446. Đài sen: cái đế thắp nến làm hình hoa sen.

Song đào: chưa thực rõ nghĩa. Có bản giải là chỗ cửa sổ có trồng cây đào.

447. Tiên thề: giấy hoa tiên (giấy viết thư từ có vẽ hoa) ghi chép lời thề.

448. Ngày xưa trai gái hẹn ước với nhau, người con gái thường lấy dao cắt một món toác tặng người yêu để biểu hiện sự hẹn ước thề nguyền.

452. Đồng: đồng tâm, cùng một lòng với nhau. Người xưa, thường tặng nhau dây lưng gấm, kết thành vòng hồi văn, ngụ ý thân yêu quấn quýt, gọi là cái "đồng tâm kết".

453. Hà: ráng mặt trời. Chén hà do chữ hà bôi thứ chén bằng ngọc màu ráng đỏ. Đây dùng nói chén quý.

Quỳnh tương: nước ngọt, ví thứ rượu ngon quý.

454. Ý nói Kiều với Kim Trọng, ngồi kề bên nhau, mùi hương giải là như hoà trộn với nhau, mà trong bình gương, bóng hai người cũng như lồng đôi với nhau.

457. Chày sương, cầu Lam: đã chú ở câu 266.

458. Sàm sỡ: lả lơi không đứng đắn.

459. Hồng điệp, xích thằng: xen câu 268 và 238.

460. Tương tri: biết lòng nhau, thông cảm nhau.

461. Nguyệt nọ, hoa kia: chuyện trai gái bất chính.

463. Cầm đài: cái đài ngồi gẩy đàn của Tư Mã Tương Như, một nhà tù phú và giỏi đàn đời Tây Hán. Đây mượn chữ cầm đài để nói người giỏi đàn.

464. Nước non: Do chữ lưu thuỷ, cao sơn (nước chảy, non cao), những tiếng đàn của Bá Nha mà Chung Tử Kỳ nghe và phân biệt được. Đây Kim Trọng đề cao Kiều lên ngang tài với Bá Nha, và tự cho mình là Chung Kỳ.

465. Tiện kĩ: nghề mọn, lời nói nhún.

467. Cầm trăng: tức nguyệt cầm, ta gọi là đàn nguyệt.

470. Bận lòng: khó nghĩ. Lắm thân: tiếng cổ, có nghĩa là "lắm thay".

471. Vũ, văn: Vũ là dây đàn to, văn là dây đàn nhỏ.

472. Cung thương: xem câu 31.

473. Hán sở chiến trường: bãi chiến trường giữa đời Hán và nước Sở. Cuối đời Tần, Lưu Bang (Hán Cao tổ) và Hạng Vũ (Sở Bá vương) cùng khởi binh đánh Tần, sau lại tranh nhau thiên hạ, đánh nhau nhiều trận kịch liệt.

474. Tiếng sắt, tiếng vàng: tiếng khí giới bằng sắt, bằng kim loại va chạm xô xát nhau. Hai câu này ý nói tiếng đàn mạnh mẽ, hùng tráng.

475. Tư Mã Phượng Cầu: Tư Mã Tương Như người đời Hán, có văn tài, ở đất Lâm Cùng. Trác Vương Tôn, có con gái là Văn Quân, người đẹp mà mới goá chồng. Tương Như gẩy khúc đàn "Phượng Cầu Hoàng" để tỏ tình với Văn Quân, Văn Quân cảm tiếng đàn, đêm ấy, bỏ nhà theo Tương Như.

477. Kê Khang, Quảng Lăng: Kê Khang, đời Tam quốc, đêm gẩy đàn cầm ở đình Hoa Dương, bỗng có người khách lạ tới dạy cho khúc "Quảng Lăng Tán", âm điệu tuyệt hay.

478. Lưu Thuỷ, Hành Vân: nước chảy, mây bay. Ý nói khúc đàn thanh thoát lưu loát, lúc thì nghe như nước chảy, lúc thì nghe như mây bay; Lưu Thủy, Hành Vân cũng là tên hai điệu đàn.

479. Quá quan: đi qua cửa ải. Chiêu Quân: tên chữ của Vương Tường, một cung nữ đời Hán Nguyên Đế, bị gả cho chúa Hung Nô, khi qua cửa ải, vào đất Hung Nô, Chiêu Quân thường gảy khúc đàn tỳ bà để tỏ nỗi lòng nhớ nhà, nhớ nước.

480. Tư gia: nhơ nhà. Câu này ý nói khúc đàn như nhớ nhung, thương tiếc.

482. Tiếng suối: tiếng đàn nghe đục như tiếng ầm ì của dòng suối dội ở lưng chừng núi xuống.

488. Chín khúc: chỉ các khúc ruột, chứ không nhất thiết phải đúng chín khúc ruột.

491. Tiêu tao: chính nghĩa là tiêu điều, thê lương. Đây dùng chỉ tiếng đàn buồn rầu, sầu não.

492. Dột: ủ dột.

Nao nao: xao xuyến, đau xót.

495. Lời vàng: lời khuyên quí giá như vàng.

497. Hoa hương: hoa có hương thơm. Thức hồng: vẻ hồng, chỉ vẻ đẹp của hoa. Ý nói Kiều đã có sắc, lại có tài càng tăng thêm giá trị, ví như đóa hoa đã đẹp lại thơm.

501. Làm chơi: làm trò trơi, làm việc thường, không quan trọng.

503. Yêu đào: cây đào non, lấy chữ ở thơ "Đào yêu", Kinh Thi: Đào chi yêu yêu (cây đào non mơn mởn) ví với người con gái trẻ mà đẹp, đã đến tuổi đi lấy chồng.

505. Bố kinh: bố là vải, kinh là cây kinh, một loại cây mọc thành cụm, hoa màu tía nhạt, cành và thân cứng rắn, thời xưa, những phụ nữ nghèo thường dùng cành nó làm trâm cài tóc.

Ở đây, ý Kiều nói: Đã cho vào hạng người vợ chính thức như hạng bố kinh thời xưa (không phải là nhân tình, nhân ngãi).

506. Tòng phu: theo chồng, chỉ cái đạo làm vợ, theo quan niệm Nho giáo xưa. Sách Nghi lễ: phu nhân hữu tam tòng chi nghĩa, vị giá tòng phụ, kí giá tòng phu, phu tử tòng tử (người đàn bà có đạo “tam tòng”, chưa lấy chồng theo cha, lấy chồng rồi theo chồng, chồng chết theo con).

507. Trên Bộc, trong dâu: trong bãi dâu, trên sông Bộc. Xưa ở nước Vệ, đời Xuân Thu, có tục trai gái hẹn hò, tụ hội nhau ở bãi dâu trên sông Bộc để hát hổng, đùa bỡn, làm việc dâm đãng bất chính.

511. Kỳ ngộ: cuộc gặp gỡ kì lạ, chỉ cuộc nhân duyên tốt đẹp của đôi tài tử giai nhân.

514. Thôi Trương: theo Hội chân kí: Thôi Oanh Oanh và Trương Cung, tên tự là Quân Thuỵ, đời Đường, là đôi trai tài, gái sắc, đẹp đôi, vừa lứa, đã gặp gỡ và yêu nhau ở chái tây chùa Phổ Cứu, đất Bổ Đông, nhưng vì đã đi lại ăn nằm với nhau, nên về sau chán nhau mà bỏ nhau.

Đá vàng: Đây chỉ tình vợ chồng chung thuỷ, đoan chính.

514. Yến anh: Đây ví với cặp trai gái.

515. Chắp cánh liền cành: Ý nói thân thiết, gắn bó với nhau. Câu này lấy điển trong bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị,  đời Đường nói về việc vua Đường Minh Hoàng và Dương Quý phi nguyện với nhau: Tại thiên nguyện tác ti dực diểu, tại địa nguyên vi liên lí chí (trên trời nguyện làm đôi chim liền cánh, dưới đất nguyện là hai cây liền cành).

517. Mái tây: Do chữ tây sương, tức chái tây chùa Phổ Cứu, nơi Thôi, Trương gặp gỡ nhau.

Hương nguyền: Nén hương để thề nguyền, thời xưa khi thề nguyền với nhau, người ta thường đốt hương.

519. Gieo thoi: chưa thực rõ nghĩa. Các sách thường dẫn điển sau đây: Tạ Côn đời Tấn, ghẹo người con gái đang ngồi dệt cửi, bị cô ta cần cái thoi ném vào mặt, gẫy mất hai cái răng (theo Tấn thư).

524. Vì: nể, tiếng cổ, cũng có nghĩa là yêu (yêu vì).

525. Bóng tầu: bóng mái nhà (Tàu: Miếng gỗ dài đặt dọc ở mái hiên, để đỡ lấy mái nhà, gần chỗ giọt tranh).

Vẻ ngân: Vẻ sáng như bạc, chỉ ánh trăng.

528. Sân đào: sân có trồng cây đào.

530. Gia đồng: người phục dịch công việc ở trong nhà.

Thúc phụ: chú ruột.

Từ đường: từ bỏ nơi nhà ở, tức là chết.

532. Lữ thấn: chết nhưng mà chưa chôn, quan tài còn quàn tạm ở nơi đất khách.

533. Liêu Dương: Tên đất, nay thuộc tỉnh Liêu Ninh (Trung Quốc) nơi chú ruột Kim Trọng chết.

Sơn khê: Núi và khe ngòi.

534. Xuân đường: cha. Xuân là một loại cây sống rất lâu. Người sau nhân gọi cha là xuân hay Xuân đường (nhà xuân), có ý mong cha được tuổi thọ như cây ấy.

Hộ tang: trông coi việc tang.

535. Mảng: tiếng cổ.

Mảng tin: mới chợt nghe tin.

536. Đài trang: do chữ trang đài, nơi trang điểm của phụ nữ.

537. Đinh ninh: nói đi nói lại, cặn kẽ tỉ mỉ, đến nơi đến chốn.

539. Đôi hồi: giãi bày, trò chuyện hết lời với nhau.

540. Trao tơ: chỉ việc kết hôn. Theo sách Khai nguyên Thiên bảo di sự: Trương Gia Trinh, tể tướng nhà Đường, có năm con gái, muốn gả một người cho Quách Nguyên Chấn, đô đốc Lương Châu, người đẹp mà có tài nghệ, bèn bảo năm con đứng sau một bức màn, mỗi người cầm một sợi dây tơ dài, dòng ra ngoài, và cho Nguyên Chấn tuỳ ý kéo lấy một sợi, trúng sợi nào thì lấy người cầm sợi ấy. Nguyên Chấn được kéo sợi tơ đỏ, lấy người con gái thứ ba, rất đẹp.

543. Ba đông: ba năm để tang.

544. Chầy: còn chậm, còn lâu ngày.

545. Gìn vàng giữ ngọc: giữ gìn thân thể cho được khoẻ mạnh, và cũng ngụ ý giữ gìn mối tình cho được thuỷ chung, trong sạch.

549. Ông Tơ: Theo sách Tục U Quái lục: Vi Cố người đời Đường, đi cầu hôn, vào nghỉ quán trọ, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng, mở cái túi vải, đang kiểm sổ sách. Vi Cố hỏi, ông già trả lời; Đây là sổ sách hôn nhân, và chiếc túi vải này dùng đựng những dây đỏ (xích thẳng) dùng để buộc chân đôi vợ chồng. Do điển này mà có những danh từ “ chỉ hồng”, “tơ hồng” để chỉ việc nhân duyên vợ chồng, và “Nguyệt Lão” (ông già dưới trăng), “Trăng Già’, “Ông Tơ”, để chỉ người làm mối mai. Tục xưa: khi cưới vợ, thường làm lễ Tơ Hồng, tức là tế ông Nguyệt Lão xe dây đỏ đó.

556. Ôm cầm thuyền ai: ôm đàn sang thuyền của người khác, tức là đi lấy chồng khác.

566. Quyên: chim đỗ quyên, tức chim quốc. Đây tả cảnh cuối hè, sang thu. Tiếng quyên kêu còn ra rả (nhặt) đầu cành và bóng nhạn đã thấy bay loáng thoáng (thưa) ở chân trời.

567. Cữ, tuần: người xưa thường tính bảy ngày là một cữ, và mười ngày là một tuần.

568. Tương tư: nguyên nghĩa là ở xa cách mà cùng nhớ nhau, sau người ta mượn để nói sự nhớ nhau của đôi trai gái yêu nhau.

570. Chín hồi: do chữ cửu hồi, ruột chín lần bị đau quặn lại.

(Theo bản Truyện Kiều – NXB Giáo dục 1984)

Truyện Kiều - Nguyễn Du (Phần thứ nhất, từ câu 243 đến câu 362)

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều cũng là đỉnh cao thơ ca cổ điển của dân tộc. Vì vậy, Truyện Kiều luôn được nhân dân ta yêu mến…
Kieuhoc.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

alt

PHẦN THỨ NHẤT

GẶP GỠ VÀ ĐÍNH ƯỚC
(Tiếp theo từ câu 242 đến câu 362)

Kim Trọng tương tư Thúy Kiều thuê nhà ở vườn Thúy chờ cơ hội gặp gỡ
Kim – Kiều hẹn ước

Cho hay là giống hữu tình,
Đố ai dứt mối tơ mành cho xong!

245. Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.
Mây Tần khóa kín song the,
250. Bụi hồng liệu nẻo đi về chiêm bao.
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Phòng văn hơi giá như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.
255. Mành Tương phân phất gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.
Vì chăng duyên nợ ba sinh,
Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi!
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
260. Nhớ nơi kỳ ngộ, vội dời chân đi.
Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu!
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu.
265. Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
270. Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Mấy lần cửa đóng, then cài,
Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?
Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo quanh chợt thấy mé sau có nhà.
275. Là nhà Ngô Việt thương gia,
Buồng không để đó người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn, cặp sách, đề huề dọn sang.
Có cây, có đá sẵn sàng,
280. Có hiên Lãm Thúy, nét vàng chưa phai.
Mừng thầm chốn ấy chữ bài,
Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây!
Song hồ nửa khép cánh mây,
Tường đông ghé mắt, ngày ngày hằng trông.
285. Tấc gang động khóa nguồn phong,
Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra.
Nhẫn từ khách quán lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thêm hai.
Cách tường phải buổi êm trời,
290. Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
Buông cầm, xốc áo, vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh!
Lần theo tường gấm dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
295. Giơ tay với lấy về nhà,
”Này trong khuê các đâu mà đến đây?
Gẫm âu người ấy, báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!”
Liền tay ngắm nghía biếng nằm,
300. Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.
Tan sương đã thấy bóng người
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.
Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:

305. “Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?”
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:
“Ơn lòng quân tử sá gì của rơi,
Chiếc thoa nào của mấy mươi
310.
Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!”
Sinh rằng: “Lân lí ra vào,
Gần đây, nào phải người nào xa xôi,
Được rầy nhờ chút thơm rơi
Kể đà thiểu não lòng người bấy nay!
315.
Bấy lâu mới được một ngày,
Dừng chân, gạn chút niềm tây gọi là…”
Vội về thêm lấy của nhà,
Xuyến vàng đôi chiếc khăn là một vuông
Thang mây rón bước ngọn tường,
320.
Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe.
Sượng sùng giữ ý rụt rè,
Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu.
Rằng: “Từ ngẫu nhĩ gặp nhau,
Thầm mong trộm nhớ, bấy lâu đã chồn,
325.
Xương mai tính đã rũ mòn.
Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay!
Tháng tròn như gửi cung mây,
Trần trần một phận ấp cây đã liều!
Tiện đây xin một hai điều,
330.
Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?”
Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:
“Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong,
Dù khi lá thắm, chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
335.
Nặng lòng xót liễu, vì hoa
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa!”
Sinh rằng: “Rày gió mai mưa,
Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi!
Dù chăng xét tấm tình si,
340.
Thiệt đây mà có ích gì đến ai?
Chút chi gắn bó một hai,
Cho đành, rồi sẽ liệu bài mối manh.
Khuôn thiêng dù phụ tấc thành,
Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.
345.
Lượng xuân dù quyết hẹp hòi,
Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!”
Lặng nghe lời nói như ru,
Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng...
Rằng: “Trong buổi mới lạ lùng,
350.
Nể lòng, có lẽ cầm lòng cho đang!
Đã lòng quân tử đa mang
Một lời, vâng tạc đá vàng thủy chung”.
Được lời như cởi tấm lòng,
Giở kim thoa với khăn hồng trao tay.
355.
Rằng: “Trăm năm cũng từ đây,
Của tin, gọi một chút này làm ghi!”
Sẵn tay khăn gấm quạt quỳ
Với cành thoa ấy, tức thì đổi trao.
Một lời vừa gắn tất giao
360.
Mái sau dường có xôn xao tiếng người.
Vội vàng lá rụng, hoa rơi,
Chàng về viện sách, nàng rời lầu trang.

(Còn nữa)

N.D

____________________
245. Thư song: chỗ cửa sổ phòng đọc sách.

246. Biếng khuây: không khuây, không khuây.

247. Sầu đong càng lắc càng đầy: ý nói mối sầu tương tư, càng ngày càng chồng chất lên mãi. Chú ý lối diễn tả cái trìu tượng bằng cái cụ thể. Ca dao:
Ai đi muôn dặm non sông,
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy.

248. Kinh thi (trung Quốc) có câu: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề” (Một ngày không trông thấy mặt nhau lâu như ba mùa thu).

249. Câu này ý nói: cửa sổ phòng Kiều như bị mây che phủ kín (chữ Tần ở đây chỉ là thêm vào cho đẹp lời văn).

251. Tuần trăng khuyết: khuyết hết cả một tuần trăng (cứ mỗi kì trăng tròn, gọi là một tuần trăng). Đĩa dầu hao: đĩa dầu thắp đêm bị cạn. Cả câu này ý nói tháng lại tháng, ngày qua ngày.

254. Ý nói Kim Trọng buồn tương tư, bỏ cả việc học hành và gẩy đàn.

255. Mạch Tương: mành làm bằng trúc núi Tương.

257. Ba sinh: do chữ Tam sinh, nghĩa là ba kiếp luân chuyển: "Quá khứ", "hiện tại" và "vị lai" của con người.

260. Kỳ ngộ: sự gặp gỡ kì lạ.

264. Vi lô: cây lau, cây sậy.

266. Lam Kiều: vùng đất thuộc huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc). Bùi Hàng, đời Đường, khi thi hỏng về, gặp Vân Kiều tặng bài thơ, có câu:"Lam Kiều tiện thị thần tiên quật, hà tất khi (kì) khu thướng ngọc kinh" (cầu Lam là cái tổ tiên đó, hà tất phải vất vả lên đế đô để thi cử làm gì). Về sau, Hàng đi qua một nơi, gọi là Lam Kiều, khát nước, vào xin nước một nhà bà lão gần đấy thấy Vân Anh, (em Vân Kiều), cháu gái bà, người tuyệt đẹp, Hàng ngỏ ý cầu hôn, bà lão bảo: Bà cần dùng cối ngọc và chày ngọc để giã thuốc huyền sương (thứ thuốc tiên), nếu có những thứ ấy làm sính lễ sẽ gả con cho. Hàng về tìm được cối và chày ngọc đưa đến, lại ở đấy giã thuốc cho bà lão một trăm ngày, rồi lấy Vân Anh và sau hai vợ chồng cùng lên cõi tiên. Ở đây, Lam Kiều chỉ chỗ nhà ở của Kiều.

268. Lá thắm: do chữ Hồng diệp. Vu Hựu, đời Đường, một hôm đi chơi, bắt được chiếc lá đỏ trôi trên ngòi nước từ cung vua chảy ra. Trên lá có đề một bài thơ, Vu Hựu bèn để lại hai câu thơ vào chiếc lá đỏ khác, rồi đem thả nơi đầu ngòi nước, cho trôi vào cung vua. Hàn thị, người cung nữ thả lá đỏ khi trước, lại bắt được lá đỏ của Vu Hựu. Về sau, nhờ dịp vua phóng thích cung nữ, Vu Hựu lấy được Hàn thị.

Chim xanh: người ta thường gọi sứ giả đưa tin là "chim xanh" (thanh điểu). Câu này ý nói: Khó thông tin tức mối manh với Thuý Kiều.

257. Ngô Việt thương gia: nhà đi buôn ở nước Ngô, nước Việt (đi buôn xa, nay Ngô, mai Việt).

279. Đá: đây chỉ núi giả (ta thường gọi là núi non bộ) do những tảng đá xếp thành.

280. Lâm Thuý: tên cái hiên của nhà Ngô Việt thương gia. Vì có chữ Thuý trùng với một chữ trong tên Kiều nên Kim Trọng mới mừng thầm là có duyên số tiên định.

281. Bài: bày ra, xếp đặt sẵn, do chữ "an bài".

283. Song hồ: cửa sổ dán giấy. Cánh mây: cánh cửa sổ.

285-286. Ý nói cửa động bị khoá, cửa nguồn bị ngăn, cho nên tuy nhà Kiều gần có ganh tấc, mà vẫn là xa xôi cách trở.

287. Nhẫn từ: kể từ khi (tiếng cổ).

293. Tường gấm: Do chữ cẩm tường, bức tường gạch có vẽ hoa như gấm (một cách tô điểm văn hoa).

294. Kim thoa: cái thoa gài tóc bằng vàng.

296. Khuê các: buồng lầu, nơi ở của con gái nhà sang trọng.

305. Hư không: bỗng không, tự nhiên.

306. Hợp phố: tên một quận, trước thuộc Giao Châu, nay thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Theo Hán sử: Nguyên xưa, ven bể quận Hợp Phố có loại trai sinh ra một loại ngọc quý, nhưng vì bọn quan tước tham nhũng, bắt nhân dân đi mò ngọc cho chúng, dân tình khổ cực, nên ngọc trai biến mất. Về sau, có vị quan thanh liêm, nhân hậu đến nhận chức, bãi lệnh mò ngọc, thì ngọc trai lại dần dần trở về. Do đó, người ta thường nói "Châu về Hợp Phố" để chỉ những trường hợp vật báu đã bị mất lại trở về với chủ cũ.

311. Lân lí: nguyên nghĩa là xóm và làng, đây ý nói bà con láng giềng.

316. Niềm tây: nỗi lòng, chút tâm sự riêng.

319. Thang mây: do chữ vân thê, nguyên là một khí cụ của quân đội thời xưa dùng để trèo vào thành bên địch (thanh cao, tưởng có thể bắc tới mây được).

320. Người hâm nọ: người gặp ở mồ Đạm Tiên.

Chăng nhe: (từ cổ) phải chăng là.

322. Kẻ: chỉ Kim Trọng. Người: chỉ Kiều, Kim Trọng nhìn tỏ mặt Kiều, mà Kiều thì e thẹn cúi đầu.

323. Ngẫu nhĩ: tình cờ, cũng như "ngẫu nhiên".

324. Chồn: mệt mỏi, ý nói sốt ruột lắm.

325. Xương mai: xương vóc gầy. Cây mai, thân và cành nhỏ bé, nên người ta thường gọi những người xương vóc gầy là mai cốt (xương mai).

Rũ mòn: gầy mòn, ý nói tương tư mà gầy mòn đi.

327-328: Ý nói suốt tháng tâm thần như gửi ở cung trăng.

330. Đài gương: giá cao,, trên mặt chiếc gương lớn và hộp đựng đồ trang sức của phụ nữ. Trong văn cổ, thường mượn chữ đài gương để chỉ người phụ nữ.

Dấu bèo: ý nói thân phận hèn mọn như cánh bèo trôi nổi mặt nước. Ở đây là lời nói khiêm tốn của Kim Trọng. Cả cây ý nói Thúy Kiều có thấu cho nỗi lòng của Kim Trọng chăng?

332. Băng tuyết: ý nói trong sạch, thanh bạch. Chất hằng: Một thể chất lúc nào cũng như vậy.

Phỉ phong: hai thứ rau, người ta dùng lá và củ nấu canh hoặc muối dưa làm món ăn hàng ngày. ý cả câu: Gia đình vốn thanh bạch, mà tư chất thì cũng bình thường, không có tài sắc gì (Lời Kiều nói khiêm tốn). Bốn chữ trên nói gia đình, bốn chữ dưới nói bản thân).

Chỉ hồng: do chữ xích thằng (sợi dây đỏ) theo sách Tục U quái lục: Vì Cố, người đời Đường, đi cầu hôn, vào nghỉ quán trọn, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng, mở cái túi vải, đang kiểm sổ sách. Vi Cố hỏi, ông già trả lời: Đây là sổ sách hôn nhân, và chiếc túi vải này dùng đựng những dây đỏ (xích thằng) dùng để buộc chân đôi vợ chồng. Do điển này mà có những danh từ: "chỉ hồng", "tơ hồng" để chỉ việc nhân duyên vợ chồng, và "Nguyệt lão" (ông già dưới trăng), "Trăng già", "ông Tơ", để chỉ người làm mối mai. Tục xưa: khi cưới vợ, thường làm lễ Tơ hồng, tức là tế ông Nguyệt lão xe dây đỏ đó.

339. Dù chăng: dù chẳng, nếu không.

343. Khuôn thiêng: khuôn Tạo hóa, chỉ trời. Khuôn do chữ quân, tức là cái khuôn dùng để nặn đồ gốm. Người xưa ví tạo hoá đúc nặn ra muôn vật như cái khuôn nặn ra các đồ gốm, nên gọi Tạo hoá là Hồng quân, Thiên quân, (khuôn trời).

Tấc thành: tấc lòng chân thành, thành thực.

345. Lượng xuân: nguyên nghĩa là tấm lòng tốt đẹp như mùa xuân. Còn có thể giải là tấm lòng của người phụ nữ trẻ tuổi, xinh đẹp.

348. Chiều xuân: như nói tứ xuân (Xuân tứ).

Nét thu: nét thu ba, nét sóng thu, tức con mắt.

352. Đá vàng: do chữ kim thạch. Kim đây là loài đồng, chỉ chuông đồng, vạc đồng; thạch là đá, chỉ bia đá. Thời xưa, những việc lớn, những công đức hay châm ngôn, thường được người ta khắc vào chuông đồng, bia đá, để lưu truyền thiên cổ. Do đó, người ta thường dùng danh từ kim thạch để chỉ cái gì có tính cách vĩnh cửu bền vững, không thay đổi được, như ghi tạc vào vàng đá. Đây nói: Kiều nhận lời gắn bó với Kim Trọng, và xin ghi tạc lời đó, như ghi tạc vào vàng đá.

357. Bả: bản Trương Vĩnh Ký chú Bả là cầm.

Quạt hoa quì: chiếc quạt bằng lá quì vẽ hoa.

359. Tất giao: sơn và keo, chỉ tình nghĩa gắn bó bền chặt với nhau như hai chất keo và sơn.

362. Lầu trang: lầu trang điểm, chỉ dùng lầu ở của phụ nữ.


(Theo bản Truyện Kiều – NXB Giáo Dục 1984)

Truyện Kiều - Nguyễn Du (Phần thứ nhất, từ câu 1 đến câu 242)

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thể hiện tính hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc. Truyện Kiều cũng là đỉnh cao thơ ca cổ điển của dân tộc. Vì vậy, Truyện Kiều luôn được nhân dân ta yêu mến…
Kieuhoc.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

PHẦN THỨ NHẤT

GẶP GỠ VÀ ĐÍNH ƯỚC
(Từ câu 1 đến câu 242)

Gia thế và tài sắc
chị em Thúy Kiều
Chị em Thúy Kiều đi chơi xuân viếng mộ Đạm Tiên và gặp Kim Trọng
1. Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ Mệnh, khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
5. Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Cảo thơm lần giở trước đèn,
Phong tình có lục còn truyền sử xanh.
Rằng: Năm Gia Tĩnh triều Minh,
10. Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.
15. Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
20. Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc, lại là phần hơn.
25. Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
30. Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên "Bạc mệnh", lại càng não nhân.
35. Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Ngày xuân con én đưa thoi,
40. Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là Đạp Thanh.
45. Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
50. Thoi vàng - vó rắc, tro - tiền giấy bay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước lần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
55. Nao nao dòng nước uốn quanh,
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sè sè nấm đất bên đường,
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: “Sao trong tiết Thanh Minh,
60. Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
Vương Quan mới dẫn gần xa:
”Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi.
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh,
65. Kiếp hồng nhan có mong manh,
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương.
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình vừa ghé tới nơi,
70. Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ!
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta.
75. Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút đỉnh gọi là duyên sau.
Sắm sanh nếp tử xe châu,
Bụi hồng một nấm mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn, ác tà,
80. Ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm!”
Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa:
”Đau đớn thay phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
85. Phũ phàng chi bấy Hoá công,
Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha.
Sống làm vợ khắp người ta,
Hại thay thác xuống làm ma không chồng!
Nào người phượng chạ loan chung,
90. Nào người tiếc lục tham hồng là ai?
Đã không kẻ đoái, người hoài,
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.
Gọi là gặp gỡ giữa đường,
Họa là người dưới suối vàng biết cho”.
95. Lầm rầm khấn vái nhỏ to,
Sụp ngồi và gật trước mồ bước ra.
Một vùng cỏ áy bóng tà,
Gió hiu hiu thổi một và bông lau.
Rút trâm sẵn giắt mái đầu,
100. Vạch da cây, vịnh bốn câu ba vần.
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.
Lại càng ủ dột nét hoa,
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.
105. Vân rằng: “Chị cũng nực cười,
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa!”
Rằng: “Hồng nhan tự thuở xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu.
Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
110. Thấy người nằm đó, biết sau thế nào?”
Quan rằng: “Chị nói hay sao,
Một điều là một vận vào khó nghe!
Ở đây âm khí nặng nề,
Bóng chiều đã ngả, dặm về còn xa.”
115. Kiều rằng: “Những đấng tài hoa,
Thác là thể phách, còn là tinh anh,
Dễ hay tình lại gặp tình,
Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ!”
Một lời nói chửa kịp thưa,
120. Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay,
Ào ào đổ lộc rung cây,
Ở trong dường có hương bay ít nhiều.
Đè chừng ngọn gió lần theo,
Dấu giày từng bước in rêu rành rành.
125. Mặt nhìn ai nấy đều kinh.
Nàng rằng: “Này thực tinh thành chẳng xa.
Hữu tình ta lại gặp ta,
Chớ nề u hiển, mới là chị em”.
Đã lòng hiển hiện cho xem,
Tạ lòng, nàng lại nối thêm vài lời.
130. Lòng thơ lai láng bồi hồi,
Gốc cây, lại vạch một bài cổ thi.
Dùng dằng nửa ở, nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
135. Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng.
Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
140. Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tự tình.
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh, cành dao.
145. Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim, tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu bậc tài danh,
150. Văn chương nết đất, thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.
Chung quanh vẫn đất nước nhà,
Với Vương Quan, trước vẫn là đồng thân.
155. Vẫn nghe thơm nức hương lân,
Một lần Đồng Tước khoá xuân hai Kiều.
Nước non cách mấy buồng thêu,
Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng.
May thay giải cấu tương phùng,
160. Gặp tuần đố lá, thoả lòng tìm hoa.
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan, thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc, kẻ thiên tài,
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
165. Chập chờn cơn tỉnh, cơn mê.
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,
170. Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Kiều từ trở gót trướng hoa,
Mặt trời gác núi, chiêng đà thu không.
Gương nga chênh chếch dòm song,
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.
175. Hải đường lả ngọn đông lân,
Giọt sương gieo nặng, cành xuân la đà.
Một mình lặng ngắm bóng nga,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời:
”Người mà đến thế thì thôi,
180. Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi!
Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không?”
Ngổn ngang trăm mối bên lòng,
Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.
185. Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu.
Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,
Có chiều phong vận, có chiều thanh tân.
Sương in mặt, tuyết pha thân,
190. Sen vàng lãng đãng như gần, như xa.
Chào mừng đón hỏi dò la:
”Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây?”
Thưa rằng: “Thanh khí xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?
195. Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy, bên trên có cầu.
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.
Vâng trình hội chủ xem tường,
200. Mà xem trong sổ đoạn trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cũng người một hội, một thuyền đâu xa!
Này mười bài mới, mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.”
205. Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
Xem thơ nức nở khen thầm:
"Giá đành tú khẩu, cẩm tâm khác thường!
Ví đem vào tập đoạn trường
210. Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai.”
Thềm hoa khách đã trở hài,
Nàng còn cầm lại một hai tự tình.
Gió đâu sịch bức mành mành,
Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.
215. Trông theo nào thấy đâu nào
Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây?
Một mình lưỡng lự canh chầy,
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!
Hoa trôi, bèo dạt, đã đành,
220. Biết duyên mình, biết phận mình, thế thôi!
Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi,
Nghĩ đòi cơn, lại sụt sùi đòi cơn.
Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
Nhà huyên chợt tỉnh, hỏi: "Cơn cớ gì?
225. Cớ sao trằn trọc canh khuya?
Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa?”
Thưa rằng: “Chút phận ngây thơ,
Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền.
Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên,
230. Nhắp đi, thoắt thấy ứng liền chiêm bao.
Đoạn trường là số thế nào,
Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.
Cứ trong mộng triệu mà suy,
Thân con thôi có ra gì mai sau!”
235. Dạy rằng: “Mộng triệu cứ đâu,
Bỗng không mua não, chuốc sầu nghĩ nao!”
Vâng lời khuyên giải thấp cao,
Chưa xong điều nghĩ, đã dào mạch Tương.
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
240. Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.
Hiên tà gác bóng chênh chênh,
Nỗi riêng, riêng chạnh tấc riêng một mình.

(Còn nữa)

N.D

_________­­­­­­­­­­­­­­­____________
2. Tài: tài năng, tài hoa của con người. Mênh: số mệnh, số phận, tức là cuộc đời con người. Câu này ý nói người có tài thường bạc mệnh.

3. Bể dâu: trong văn chương cổ của chúng ta thường dùng thành ngữ "bãi bể nương dâu", hoặc nói tắt là "bể dâu" để chỉ những sự biến đổi thăng trầm của cuộc đời.

5. Bỉ sắc tư phong: điều kia kém thì điều này hơn. Ý muốn nói đã được Tài hơn người thì Mệnh phải kém người.

6. Tạo hoá ghen với người đàn bà đẹp.

7. Cảo thơm hay Kiểu thơm: do chữ Hán phương cảo, nghĩa là pho sách thơm, pho sách hay.

8. Phong tình: chuyện tình yêu trai gái.

Sử xanh: do chữ thanh sử . Ở Trung Quốc thời xưa, khi chưa có giấy, người ta chép sử bằng cách khắc chữ vào những thanh trúc, thanh tre cật màu xanh, nên gọi là thanh sử.

9. Gia Tĩnh: Niên hiệu vua Thế Tông, nhà Minh (1522-1566).

10. Hai kinh: tức Bắc Kinh và Nam Kinh (Trung Quốc). Cả hai câu này ý nói: thời đại này, rất thái bình thịnh trị.

11. Viên ngoại: một chức quan ngoại ngạch, giữ việc sổ sách tại các bộ, đặt ra từ thời Lục-triều. Về sau, cứ có tiền là có thể mua được chức này. Chữ "Viên ngoại" ở đây có nghĩa như chữ trưởng giả.

14. Chữ: tức tên chữ, tên tự. Theo tục xưa danh là tên chính, và tự là tên chữ, người nào mới sinh cũng có danh là tên chính, khoảng 20 tuổi đặt thêm tên chữtự.

15. Tố Nga: chỉ người con gái đẹp.

17. Thuý Kiều và Thuý Vân, mỗi người có một vẻ riêng như mai có "cốt cách" của mai, tuyết có "tinh thần" của tuyết.

20. Khuôn trăng: khuôn mặt. Nét ngài: Nét lông mày. Ngài: con ngài, tức con bướm tằm, ở đầu nó có hai cái râu, dài, thanh, cong cong hình bán nguyệt. Lông mày người con gái đẹp trông giống cái râu ngài.

21. Thốt: tiếng cổ có nghĩa là nói.

Hoa cười, ngọc thốt: cười tươi như hoa, nói đẹp như ngọc.

25. Thu thuỷ: nước mùa thu, Xuân sơn: núi mùa xuân. Câu noi này ví mắt Kiều trong sáng như làn nước mùa thu, lông mày xanh, đẹp như rặng núi mùa xuân.

27. Bài ca của Lý Diên Niên, đời Hán, ca ngợi sắc đẹp của một mĩ nhân có câu:

Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc.

Nghĩa là:

Quay lại nhìn một lần thì làm nghiêng thành người
Quay lại nhìn lần nữa thì làm nghiêng nước người.

Do đó, người sau thường dùng chữ nghiêng nước (khuynh quốc), nghiêng thành (khuynh thành) để chỉ sắc đẹp phi thường của người phụ nữ.

Hai chữ một hai trong câu này dịch mấy chữ nhất cố, tái cố ở trên.

28. Câu này có nghĩa là về "sắc" thì chỉ có một mình Kiều là nhất, về "tài" thì may ra còn có người thứ hai nữa.

31. Cung, thương: hai âm đứng đầu ngũ âm trong cung bậc nhạc cổ của Trung Quốc: Cung, thương, giốc, truỷ, vũ.

Lầu bậc: làu thông cung bậc.

32. Hồ cầm: một loại đàn tỳ bà. Hồ cầm một trương: một cây đàn hồ cầm.

34. Bạc mệnh: tên bản đàn do Thuý Kiều sáng tác. "Bạc mệnh" nghĩa là số mệnh bạc bẽo, mỏng manh.

Não nhân: làm cho người ta nghe mà não lòng.

35. Hồng quần: cái quần màu hồng. Phụ nữ Trung Quốc xưa thường mặc quần màu hồng, hai chữ này được dùng để chỉ nữ giới.

36. Cặp kê: nghĩa là đến tuổi cài trâm (Kê nghĩa là cái trâm). Theo lễ cổ Trung Quốc, con gái 15 tuổi đến thì hứa gả chồng nên bắt đầu búi tóc, cài trâm.

38. Tường đông: Bức tường ở phía đông. Đây dùng chữ "tường đông" để chỉ chỗ có con gái đẹp ở.

39. Con én đưa thoi: nhân cảnh mùa xuân có chim én, chim én, ngầm ý nói thời gian thấm thoát qua nhanh.

40. Thiều quang: ánh sáng tươi đẹp, chỉ tiết mùa xuân. Mùa xuân có 90 ngày (ba tháng), mà đã ngoài 60, tức là đã bước sang tháng ba.

43. Thanh minh: theo âm licjk, một năm chia làm bốn mùa, mỗi mùa chia làm sáu tiết. Thanh minh là một tiết của mùa xuân nhằm vào đầu tháng ba.

44. Tảo mộ: quét mồ. Theo tục cổ, đến tiết Thanh minh con cháu đi viếng và sửa sang lại phần mộ của cha mẹ tổ tiên.

Đạp thanh: dẫm lên cỏ xanh, chỉ việc trai gái đi chơi xuân, dẫm lên cỏ xanh ngoài đồng, do đó mà gọi hội Thanh minh là hội Đạp thanh.

45. Yến anh: chim yến (én), chim anh (có khi đọc là oanh), hai loài chim về mùa xuân, thường hay ríu rít từng đàn. Đây ví với cảnh những đoàn người rộn ràng đi chơi xuân.

48. Ngựa đi như nước: ngựa xe qua lại như nước chảy, hết lớp này đến lớp khác.

Áo quần như nêm: ý nói người đông đúc, chen chúc.

49. Ngổn ngang gò đống kéo lên: những đoàn người ngổn ngang kéo nhau lên nơi gò đống.

50. Vàng - vó: một loại vàng giấy, dùng trong việc đưa ma hoặc lễ mộ.

53. Tiểu khê: ngòi nước nhỏ.

62. Ca nhi: người con hát chuyên làm con hát trong các lầu xanh.

64. Yến anh: chỉ khách làng chơi.

65. Hồng nhan: má hồng, chỉ người con gái đẹp.

66. Cành thiên hương: cành hoa thơm của trời, chỉ người con gái đẹp.

70. Trâm gãy bình rơi: ý nói người đẹp đã chết.

72. Dấu xe ngựa: dấu vết xe ngựa của những khách đến chơi bời khi trước.

74. Bấy: biết bao nhiêu.

77. Nếp tử, xe châu: quan tài bằng gỗ tử và xe đưa đám tang có rèm hạt châu. Ý nói người khách mua quan tài và thuê xe tang chông cất Đạm Tiên một cách chu đáo.

78. Bụi hồng: do chữ hồng trần, nghĩa là đám bụi đỏ. Đây muốn ám chỉ nấm mộ nằm bên đường, một nấm mồ lưu lại trong cõi trần gió bụi.

79. Thỏ bạc, ác vàng: người xưa cho rằng trong mặt trăng có con thỏ giã thuốc, trong mặt trời có con quạ vàng ba chân.

82. Châu: hạt ngọc châu, đây chỉ nước mắt.

85. Hoá công: thợ tạo hoá, tức là trời.

86. Phượng: Chim phượng trống. Loan: chim phượng mái. Trong văn cổ, loan phượng dùng để chỉ đôi lứa vợ chồng. Ở đây chỉ những khách làng chơi đi lại, chung chạ ái ân với Đạm Tiên, ngày trước.

90. Tiếc lục tham hồng: tiếc màu lục, tham màu hồng. Ý nói luyến tiếc, ham sắc đẹp của giai nhân.

94. Suối vàng: do chữ hoàng tuyền ở dưới đất có mạch suối, mà đất thuộc màu vàng, nên gọi là hoàng tuyền.

97. Áy: vàng úa.

100. Bốn câu ba vần: thể thơ tứ tuyệt xưa.

112. Vận vào: ý nói lời nào cũng như ám chỉ vào mình.

113. Âm khí: cái khí cõi âm, cõi chết. Ở đây chỉ không khí bãi tha ma.

116. Thể: thể xác (hữu hình). Phách: chỉ những cái gì vô hình chỉ dựa vào thể xác mà tồn tại.

118. Hiển linh: tỏ sự linh thiêng cho mọi người biết.

120. Trận gió cuốn cờ: trận gió mạnh, lốc.

126. Tinh thành: lòng thành thuần khiết, lòng chí thành.

128. U hiển: U là tối, chỉ cõi chết. Hiển là sáng rõ, chỉ cõi sống. Ý nói: chớ nề kẻ sống, người chết, kẻ cõi âm, người cõi dương.

136. Tay khấu: tay cầm cương ngựa. Ý nói buông lỏng dây cương cho ngựa đi thong thả.

Dặm băng: dặm đường đi.

137. Lưng túi gió trăng: chỉ phong cách tao nhã của Kim Trọng.

139. Câu: con ngựa non. Dòn: hàm ý chỉ, lanh lợi, xinh đẹp.

142. Tự tình: chuyện trò, bày tỏ tâm tình.

143. Hài văn: thứ giày thêu mà nho sĩ thời xưa thường dùng.

Dặm xanh: dặm cỏ xanh.

144. Cây quỳnh, cành giao: cây ngọc quỳnh và cây ngọc giao. Ý nói vẻ khôi ngô tuấn tú của Kim Trọng như làm cho cả một vùng cũng hoá đẹp lây.

146. Hai kiều: hai người con gái xinh đẹp, tức hai chị em Thuý Kiều.

148. Trâm anh: trâm là cái trâm để cài búi tóc. Anh là cái dải mũ, hai thứ dùng trang sức cho cái mũ của người sĩ tử, quan chức. nhà trâm anh: Chỉ những nhà thế tộc phong kiến, có người đỗ đạt, làm quan.

149. Phú hậu: giàu có.

150. Nết đất: theo lối nhà, theo dòng dõi trong nhà. Câu này ý nói Kim Trọng thuộc dòng dõi văn chương và có cái thông minh trời phú.

151. Phong tư: dáng điệu. Tài mạo: tài hoa và dung mạo.

152. Phong nhã: phong lưu nho nhã. Hào hoa: sang trọng phong cách có vẻ quí phái. Vào trong là ở trong nhà, ra ngoài là ra giao thiệp với đời.

154. Đồng thân: bạn cùng học.

155. Hương lân: làng xóm. Ý nói: vẫn nghe tiếng khen đồn đại ở vùng lân cận.

156. Đồng Tước: Đời Tam Quốc, Tào Tháo đào sông Chương Hà, bắt được đôi chim sẻ đồng, bèn cho xây ở gần đó một toà lâu đài, đặt tên là đài Đồng Tước (sẻ đồng), và định hễ đánh thắng Đông Ngô thì bắt hai chị em Đại Kiều và Tiểu Kiều (là vợ Tôn Sách và vợ Chu Du) đem về đấy để vui thú cảnh già. Khoá xuân ở đây là khoá kín tuổi xuân, tức cấm cung. Hai Kiều tức Đại Kiều và Tiểu Kiều. Tác giả mượn điển cũ để nói bóng rằng: nhà họ Vương có hai cô gái đẹp cấm cung.

157. Buồng thêu: buồng người con gái.

158. Chốc mòng: tiếng cổ, nghĩa là bấy lâu, bấy nay.

159. Giải cấu tương phùng: cuộc gặp gỡ tình cờ.

160. Đố lá: Hội đố lá, còn gọi là diệp hý, một tục chơi xuân có từ đời nhà Đường. Vào khoảng tháng ba, trai gái đi du xuân, bẻ một cành cây rồi đố nhau xem số lá chẵn hay lẻ để đoán việc may rủi. Đây là dịp để họ làm quen và tìm hiểu nhau.

161. Bóng hồng: bóng người con gái. Phụ nữ Trung Quốc thời xưa hay mặc quần đỏ nên gọi là bóng hồng.

162. Xuân lan, thu cúc: hai chị em Kiều, mỗi người có một vẻ đẹp riêng, ngưòi như lan mùa xuân, người như cúc mùa thu.

163. Quốc sắc: sắc đẹp nhất nước, chỉ Thuý Kiều.

166. Chỉn: tiếng cổ, chỉn khôn: chẳng xong, không xong.

173. Gương nga: tức mặt trăng. Theo truyền thuyết trong cung trăng có chị Hằng Nga, nên thường gọi trăng là "gương nga".

174. Vàng gieo ngấn nước: ánh trăng vàng dọi xuống ngấn nước.

175. Đông lân: xóm bên đông, nơi có con gái đẹp ở, cũng giống nghĩa chữ "tường đông".

Hải đường lả ngọn đông lân: cây hải đường ở xóm đông lả ngọn xuống.

177. Bóng nga: bóng trăng.

179. Người mà: chỉ Đạm Tiên.

181. Người đâu: chỉ Kim Trọng.

186. Triện: lan can.

188. Phong vận: nền nã, yểu điệu.

Thanh tân: thanh tú, tươi tắn.

189. Ý nói mặt và thân hình người tiểu kiều đó như có sương và tuyết in phủ lấy.

190. Sen vàng: chỉ gót chân người đẹp. Đông Hôn Hầu, đời Tề (Nam Bắc Triều), rất yêu quí nàng phi họ Phan, từng đúc hoa sen bằng vàng lát xuống nền nhà, để cho nàng đi lên rồi khen rằng: "Bộ bộ sinh liên hoa" (mỗi bước đi nở ra một hoa sen).

Lãng đãng: tiếng cổ, như nói lửng đửng, đi từ từ chậm chậm.

192. Đào nguyên: nguồn đào, nơi tiên ở. Đời Tấn một người đánh cá chèo thuyền ngược theo một dòng suối đi mãi tới một khu rừng trồng toàn đào, thấy nơi đó có một cảnh sống êm đẹp như nơi tiên ở. Người sau dùng chữ "nguồn đào" hay "động đào" để chỉ cảnh tiên.

193. Thanh khí: Kinh Dịch: "Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" (cùng một thứ tiếng thì ứng với nhau, cùng một loại khí thì tìm đến nhau).

195. Hàn gia: hèn là nghèo, gia là mọn, nhà xoàng, lời nói khiêm tốn.

Tây thiên: phía trời đàng tây, hoặc cánh đồng phía tây.

197. Hạ cố: trông xuống, chiếu cố tới.

198. Hạ tứ: ban xuống, ban cho. Cả câu: hai bài thơ của Kiều lời đẹp ý hay, thật quý báu như là ném cho những hạt châu, gieo cho những thỏi vàng vậy.

200. Đoạn trường: đứt ruột, chỉ sự đau đớn bi thương. Sổ đoạn trường: sổ ghi tên những người phụ nữ bạc mệnh.

201. Quả kiếp nhân duyên: quả là kết quả. Nhân là nguyên nhân, ý nói duyên (tốt) hay kiếp (xấu) cũng là có nhân với quả cả.

208. Tú khẩu, cẩm tâm: miệng thêu, lòng gấm. Ý nói thơ Kiều làm tuyệt hay.

222. Đòi cơn: nhiều cơn.

223. Trướng loan: màn có thêu chim loan.

224. Nhà huyên: tức mẹ. Huyên là cây hoa hiên, theo thuyết cổ, có tính chất làm quên sự lo phiền.

226. Hoa lê: ví với người đẹp, giọt mưa ví với giọt nước mắt.

228. Dưỡng sinh: nuôi dưỡng và sinh ra, chỉ công ơn cha mẹ.

235. Mộng triệu: điều thấy trong mộng.

238. MạchTương: dòng nước mắt. Tương là tên một con sông ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) chảy vào hồ Động Đình. Ngày xưa, vua Thuấn đi tuần thú, chết ở phương xa, hai người vợ vua là Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm, đến ngồi trên bờ sông Tương, khóc rất thảm thiết, nước mắt vẩy ra những khóm trúc xung quanh, làm cho trúc đó hoá thành những điểm lốm đốm. Về sau, các nhà văn thường dùng chữ mạch Tương, giọt Tương để chỉ nước mắt phụ nữ.

(Theo bản Truyện Kiều – NXB Giáo Dục 1984)


Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay53
mod_vvisit_counterHôm qua175
mod_vvisit_counterTất cả62245
Hiện có 44 khách Trực tuyến