Lời nói đầu cuốn sách “Doanh nhân với Truyện Kiều- Truyện Kiều với Doanh nhân”

Nhân lễ giỗ lần thứ 197 ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du (1765 - 1820), Hội Kiều học Việt Nam phối hợp với Tổng công ty Hanvico - Ấm Áp Như Lòng Mẹ tổ chức cuộc giao lưu, tọa đàm về chủ đề: Doanh nhân với Truyện Kiều - Truyện Kiều với Doanh nhân.

alt

Đây là sự nhất trí đồng tâm giữa hai tổ chức: Hội và Doanh nghiệp nhằm hướng tới một lĩnh vực quan trọng, nếu không nói là quan trọng hàng đầu, của cuộc sống dân tộc hôm nay - đó là hoạt động của tầng lớp doanh nhân và vai trò của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước trong bối cảnh Toàn cầu hóa, Cách mạng số và Kỷ nguyên thông tin hôm nay.

Trong những nhân tố (hoặc điều kiện) cốt thiết cho sự hình thành bản lĩnh một doanh nhân chân chính, rất cần một tư chất văn hóa, có thể gọi là văn hóa doanh nhân; cái đó chỉ có thể được bắt nguồn, được bồi đắp, được tiếp sức, được kết tinh và tỏa sáng bởi những tinh hoa văn hóa dân tộc. Và nói tinh hoa văn hóa dân tộc, không thể không nói đến Nguyễn Du - Đại thi hào dân tộc, với hai lần bước ra đại lộ văn minh nhân loại, trong tư cách Danh nhân Văn hóa thế giới; và Truyện Kiều - “thiên thu tuyệt diệu từ”, với 3.254 câu thơ không câu nào được phép quên, trong đó có câu thứ 3.252 “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” - đã là công dân Việt hẳn không ai không in sâu vào tâm khảm, trong suốt hơn 200 năm qua…

Chủ đề mới, chủ thể tổ chức mới, cuộc giao lưu chỉ có thể có được thành công nhờ vào sự đóng góp của các tác giả là các doanh nhân và các nhà nghiên cứu, như được thể hiện ở sách này.

Thay mặt Hội Kiều học Việt Nam và Tổng công ty Hanvico, xin được gửi đến các tác giả và tất cả những người tham dự cuộc giao lưu lời cảm ơn chân thành, cùng lời chúc cuộc gặp gỡ thân tình, đầm ấm này tạo được một dấu ấn riêng và có kết quả như chúng ta mong đợi.

Hà Nội mùa Quốc Khánh 2017

và tháng Vu Lan Đinh Dậu

GS. Phong Lê - TS. Phạm Văn Tuần

Một cách tiếp cận mới lạ đối với Truyện Kiều- Phan Huy Dũng

(Những cảm nhận khi đọc cuốn: “ Truyện Kiều… chưa xong điều nghĩ”

của nhà giáo Phan Thị Thanh Thủy)

alt

Hơn một thế kỷ nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã bị giới học giả chiếm làm của riêng, dù người ta không ngớt nói về tính nhân dân, tính đại chúng của kiệt tác này. Ở đâu cũng chỉ nghe vọng ra tiếng nói đầy quyền uy, tự tin cắt nghĩa, lý giải, thẩm định, bình giá Truyện Kiều của các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình, và đôi khi, các nhà giáo. Còn biết tìm lối nào để đến với Truyện Kiều, theo một cung cách tiếp xúc tự nhiên, hồn nhiên, mong ngỏ vài lời vô tư, bình dị cùng Nguyễn Du về các nhân vật của ông hay về bức tranh đời mà ông đã vẽ ra trong cuốn truyện thơ dài 3254 dòng lục bát! Cơ hội mở lời, góp lời của nhiều thành phần độc giả khác trong xã hội rõ ràng đã bị thu hẹp. Rất có thể vì thế mà Truyện Kiều càng ngày càng trở nên xa cách với công chúng, giữ khuôn mặt đáng kính, giữa vòng vây của những mệnh đề uyên bác mà lắm lúc ta phải toát mồ hôi mới đọc “vỡ” được.

Nhưng rồi Truyện Kiều đã trở lại theo cách tôi vẫn âm thầm mong mỏi. Do những cơ duyên không thể đoán, mấy bài viết đầu tiên mang tính thăm dò về Truyện Kiều của nhà giáo Phan Thị Thanh Thủy đã đến tay tôi. Thoạt đầu, tôi đã đọc với rất nhiều ngờ vực. Sao lại thế? Đã từng xuất hiện bao nhiêu công trình nghiên cứu mang tính nền tảng về Truyện Kiều, vậy mà những bài viết này chẳng mảy may đả động tới chúng. Lại nữa, đây là thời kỳ phát triển nào của tư duy về văn học, mà kẻ yêu văn chương kia vẫn ngây thơ nhìn các nhân vật như những con người có thực ngoài đời? Xem ra, tác giả chưa biết sợ những lời chê trách về bệnh xã hội học dung tục trong hoạt động cắt nghĩa, lý giải sáng tác… Quả có một cái gì như là sự “hoang dã” ở cách cảm thụ, suy nghĩ và cách viết của Phan Thị Thanh Thủy. Oái oăm thay, điều khiến tôi quyết định không bỏ qua những trang văn của chị lại chính là tính chất đó.

Chẳng phải là “hoang dã” (và liều lĩnh) sao, khi người viết cứ thích “xăm xăm” một mình trên các lối đi khó khăn, không ngại đụng độ với thói quen tiếp nhận của số đông, với các thành kiến hay với những mệnh đề tiên nghiệm? Ở đâu người ta ca ngợi nàng Kiều chu toàn mọi nhẽ, ở đây thì không. Ở đâu thiên hạ ra sức tô vẽ cho mối tình Kim Trọng – Thúy Kiều, ở đây chỉ có những lời bình “sát ván”, khiến không ít kẻ chưng hửng và thấy tẽn tò thay cho ai. Rồi việc đề cao ứng xử của Hoạn Thư, nghĩa tình của Thúy Vân. Rồi việc xem xét lại định kiến về “năm Gia Tĩnh triều Minh” (có tính tượng trưng) như một thời rối ren, vô luật pháp… Cũng là “hoang dã” khi người viết cứ sấn tới hạch hỏi các nhân vật (nhất là Thúy Kiều) về lẽ này, lẽ khác, không cho nhân vật có cơ hội thanh minh rằng họ nhiều khi chẳng được chủ động như độc giả nghĩ, vì người chủ động chính là… Nguyễn Du vậy!

Tuy nhiên, đọc sâu các bài viết của tác giả Phan Thị Thanh Thủy, dễ nhận ra cái “hoang dã” nói ở trên chỉ là biểu hiện bề ngoài của một tính cách cương nghị: dám bộc lộ chủ kiến, dám đối thoại với nhiều nhận định đã được “đóng khung”, trên tinh thần trọng logic thực tế, trọng bằng chứng cụ thể do tác phẩm đưa lại. Tác giả ít quan tâm nghiên cứu phương diện nghệ thuật của Truyện Kiều mà tập trung bàn về thái độ ứng xử của con người trong cuộc sống, thông qua việc phân tích “tận bờ, sát góc” từng hành vi, từng cử chỉ, lời nói của các nhân vật, từ Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Thúy Vân đến Thúc Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến… Quả đây là một cách đọc lạ và đầy chủ động đối với Truyện Kiều trong bối cảnh nghiên cứu, học thuật bây giờ. Nhưng suy cho cùng, tác giả có quyền làm thế, cũng như có quyền tin vào sự tồn tại của các nhân vật như những “khách thể tinh thần đặc thù”, những nhân cách độc lập, để có thể từ đó triển khai các cuộc đối thoại song phương, đa phương hay trao đổi về kinh nghiệm sống. Tác giả hầu như tin rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều là để mở ra cơ hội cho người đọc nhận biết về bản chất của tồn tại và suy ngẫm sâu sắc về cách ứng xử cần có của mỗi một con người giữa cuộc đời, về thái độ dám nhận trách nhiệm trước cái gọi là “số phận”. Như vậy, chính tác giả đã có những nghiệm sinh sâu sắc về tác động khác thường của một kiệt tác văn chương đối với người đọc. Viết tập sách này, rất có thể, mục đích đầu tiên của tác giả là kể lại quá trình nghiệm sinh đó. Hóa ra, Phan Thị Thanh Thủy đang đi tìm mình chứ không phải đang chạy theo Nguyễn Du. Có thể nghĩ rằng những lúc chị “căn vặn” Thúy Kiều đến điều cũng là lúc chị đang thực hiện một cuộc tra vấn nghiêm khắc, không khoan nhượng đối với chính bản thân và đối với mọi kẻ liên đới.

Do những hạn chế có tính tất yếu của môi trường sống và công tác, tác giả không được đọc nhiều những nghiên cứu hàn lâm về Truyện Kiều. Dĩ nhiên, đối với một người muốn theo đuổi công việc phê bình, điều này không nên được xem là chuyện tích cực. Nhưng dù sao, ta cũng phải thừa nhận rằng chính nó đã giúp tác giả duy trì được mạch nghĩ riêng, có thể còn thô phác nhưng thuần chất của mình về Truyện Kiều và triển khai chúng thành các bài viết có nhiều nét độc đáo, chứa đựng những suy nghĩ sâu sắc có thể khiến không ít người giật mình. Để hoàn thành tập sách, tác giả buộc phải mở rộng sự đọc, buộc phải chú ý tới một số cách trình bày theo đúng quy phạm. Sự “hoang dã” vốn có tất yếu sẽ nhạt đi theo thời gian, cùng với quá trình chị dấn sâu vào công việc phê bình. Những nhận xét tinh tế, những lời bình hoặc ngọt lừ, hoặc sắc lẻm cũng xuất hiện ngày càng nhiều hơn. Từ những bài viết ban đầu về một vài nhân vật cụ thể, chị đã tiến tới những bài viết mang tính khái quát cao về kiệt tác của Nguyễn Du. Giá trị nhân đạo của Truyện Kiều, không gian Phật giáo trong Truyện Kiều, triết lý sống trong Truyện Kiều… không hẳn là những vấn đề mới, tuy nhiên, Phan Thị Thanh Thủy vẫn nêu được những kiến giải riêng, nhận định riêng, không giống ai nhưng thật đáng suy ngẫm.

Viết được nhiều bài về Truyện Kiều trong thời gian ngắn và công bố chúng cùng một lượt trong tập sách dày dặn như thế này là cả một kỳ tích, chí ít cũng đối với kẻ chưa hề, chưa phải là nhà nghiên cứu, phê bình chuyên nghiệp. Tác giả đã cho thấy trong việc tiếp nhận các kiệt tác văn chương, không ai là người có thể đưa ra nhận định cuối cùng về giá trị của chúng. Cơ hội lý giải, cắt nghĩa còn dành cho tất cả, đặc biệt dành cho những người không chịu chấp nhận ngay những định đề, mà chỉ tin vào sự mẫn cảm của bản thân và tin vào ý nghĩa sống còn của hoạt động đối thoại trên tinh thần trách nhiệm.

Có một Nguyễn Du khác, một Truyện Kiều khác, và theo đó, một Thúy Kiều, một Kim Trọng, một Thúy Vân, một Hoạn Thư, một Thúc Sinh… khác đã xuất hiện dưới ngòi bút phê bình “chưa chuyên” của nhà giáo Phan Thị Thanh Thủy. Đúng, mọi chuyện đều có thể xảy đến – bất ngờ và thú vị –, một khi chúng ta cùng tin rằng: Truyện Kiều… chưa xong điều nghĩ!

PHAN HUY DŨNG

Phó Giáo sư, Tiến sỹ, giảng viên, khoa Văn, ĐHSP, Đại học Vinh

Những điểm mờ lịch sử và những dự đoán văn chương qua tiểu thuyết: Nguyễn Du trên đường gió bụi

Viết tiểu thuyết “ Nguyễn Du trên đường gió bụi” ( NXB Văn học - 2013 ) , nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Hoàng Khôi muốn dùng văn chương để góp một tiếng nói nhằm phần nào giải đáp những câu hỏi lớn: “ Cuộc đời Nguyễn Du còn nhiều điểm “ mờ”! Mười năm gió bụi là một khoảng thời gian dài Nguyễn Du ở Thái Bình hay còn đi đâu nữa? Truyện Kiều được sáng tác ở thời điểm nào? Tại sao nhiều bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du viết về cảnh vật, con người Trung Hoa lại không trùng với con đường mà ông đi sứ? ”. Có thể nói tiểu thuyết Nguyễn Du trên đường gió bụi giải đáp phần nào những câu hỏi về một giai đoạn cuộc đời và sáng tác của Nguyễn Du để làm sáng tỏ hơn những điều chưa biết về cuộc đời của Đại thi hào của dân tộc.

alt

Về hoàn cảnh lịch sử, tác giả đã dựa vào những sự kiện trong thời kì Lê, Trịnh, phong trào Tây Sơn và những năm đầu triều Nguyễn. Tác giả đã khai thác bối cảnh lịch sử đó qua tác phẩm nổi tiếng: “ Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái. “ Hoàng lê nhất thống chí” từ trước đến nay được coi như là một bức tranh toàn cảnh về lịch sử trung đại Việt Nam ở thời kì suy tàn của chế độ phong kiến Lê, Trịnh, khi mà vua Lê chỉ “ khoanh tay rủ áo làm trò mua vui”, để cho chúa Trịnh tác oai tác quái; khi những tôn ti,đạo lí phong kiến quân, sư, phụ đã không còn được tôn trọng: “Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu chúa không bằng yêu thân”. Trong sự suy tàn chung của chế độ phong kiến với những loạn kiêu binh, sự tranh giành quyền lực của giai cấp thống trị, phong trào khơi nghĩa nông dân tiêu biểu là phong trào Tây Sơn ấy, cậu ấm con quan tể tướng phải chịu cảnh “ thập tải phong trần” cũng là điều dễ hiểu.

Sự suy vong của triều đại phong kiến, những bất hạnh của thân phận những người lương thiện như một sự ám ảnh cả cuộc đời thi nhân. Ông đã tổng kết tất cả nỗi đau của kiếp người qua tác phẩm bất hủ: “ Văn tế thập loại chúng sinh”. Với tập thơ chữ Hán “ Bắc hành tạp lục” , ông đã nói lên một thực tế là Nguyễn Du đã đến đất nước Trung Hoa trước khi ông được triều Nguyễn cử đi sứ sang Trung Quốc. Nhà văn Hoàng Khôi đã dựng lại cuộc hành trình đến một quốc gia chưa đặt chân đến bao giờ cũng chứng minh một sức sáng tạo rất đáng trân trọng đối với tác giả. Việc Nguyễn Du một mình khám phá đất nước Trung Hoa có thể là một dự đoán có cơ sở.

Tiểu thuyết đã mô tả cuộc đời Nguyễn Du từ thời thơ ấu cho đến những năm ông ở tuổi ba mươi. Đó là phủ Bích Câu, tư dinh của quan Tể tướng Nguyễn Nghiễm ở kinh thành Thăng Long. Tác giả đã dựng lại một bức tranh buồn về thân phận con người nơi Nguyễn Du sống những ngày thơ bé. Nơi ấy, thân mẫu của nhà thơ chỉ giữ phận tỳ thiếp bị coi thường, bị chèn ép, bị bao bọc giữa bao nỗi buồn thân phận. Thân mẫu Nguyễn Du thật đoản mệnh. Hình ảnh bà nắm chặt viên sỏi khi nhắm mắt gây nên sự xúc động lớn đối với người đọc.

Tác giả đã miêu tả mối tình đầu giữa cậu chiêu Bảy với cô gái lái đò trên sông Hồng. Từ một giai thoại, nhà văn Hoàng Khôi đã miêu tả khá sinh động về mối tình đầu của nhà thơ với cô Nhợt. Hình ảnh họ dắt tay nhau đi chơi trong đêm hội đền Chử Đồng Tử thật lãng mạn. Nhưng kết cục là một nỗi buồn, vì cảnh nghèo hèn của cô gái, vì không môn đăng hộ đối mà kết cục là sự chia ly, và sự mất tích của cô lái đò bất hạnh. Tác giả cũng đã say sưa miêu tả mối tình lãng mạn giữa Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương giữa tài tử và thi nhân bên bến nước Nghi Tàm, Hồ Tây. Một mối tình trong sáng, nghiêm túc để lại trong lòng Nguyễn Du bao nhiêu lưu luyến, nhớ nhung.

Tác giả dành nhiều bút mực để miêu tả cuộc khám phá đất nước Trung Hoa của chàng trai trẻ Nguyễn Du. Ông đã một mình dũng cảm từ Thái Nguyên, vượt qua biên giới, đến với Quảng Tây, Vân Nam, lên đến Trường An, rồi quay về Hàng Châu với một lộ trình xa lắc trên đất nước mênh mông và xa lạ ấy. Đến bất kì địa phương nào, gặp gỡ bất kì cảnh vật nào, con người nào, Nguyễn Du hầu như đều có thơ ghi lại cảm xúc của mình. Trên con đường trường chinh cô độc, Nguyễn Du đã đến với những nhân vật vĩ đại của đất nước Trung Hoa . Ông đã đến tận những nơi còn dấu tích của để tưởng nhớ những con người ấy như Khuất Nguyên, Nhạc Phi, Tô Đông Pha, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Dương Quý Phi ... Có thể nói “ Bắc hành tạp lục” là một cuốn nhật kí bằng thơ của thi nhân. Trong cuộc hành trình ấy, một điều may mắn vô cùng cho Nguyễn Du và cho thơ ca cổ điển Việt Nam là ông đã bắt gặp và đã say sưa đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Những tình tiết, những nhân vật trong cuốn sách có những điểm khác nhưng với tư tưởng nhân văn cao cả, với tài hoa của một thi sỹ lớn, ông đã Việt hóa những cảnh vật, những số phận con người, điển hình hóa đến mức cao độ để phù hợp với cuộc sống cũng như con người Việt Nam qua tác phảm vĩ đại, “Truyện Kiều”.

Ở phần cuối cuốn sách, nhà văn Hoàng Khôi đã thông qua Nguyễn Du để bày tỏ tình cảm yêu thương của mình đối với quê hương Nghi Xuân. Dù chỉ là một mảnh đất nghèo, biển xanh cát trắng nhưng nơi ấy thực sự là một vùng đất địa linh nhân kiệt. Theo bước chân của Nguyễn Du, Nguyễn Hành, tác giả đưa ta đến với làng quê Tiên Điền, bắt gặp một bến Giang Đình, một cầu Tiên, một cửa biển Hội Thống, được nghe hát ca trù Cổ Đạm, được đi săn thú bẫy chim. Về quê hương Nghi Xuân, Nguyễn Du trở thành “ Nam hải điếu đồ, “ Hồng Sơn liệp bộ” Rồi tác giả lại nói rõ lí do tại sao những ngôi mộ của một dòng họ danh gia vọng tộc như họ Nguyễn Tiên Điền đều không đắp nấm mà để phẳng. Dẫu lên rừng, xuống biển, vào chùa hay say mê ngắm những cảnh đẹp quê hương nhưng vẫn không khỏa lấp được “ một nỗi buồn cố hữu, một nỗi sầu nhân thế mênh mông” trong tâm hồn lộn gió bốn phương của đại thi hào. Tất cả những trải nghiệm đó đã đươc dồn nén để có một “Truyện Kiều” bất hủ.

Cuốn sách có 15 phần. Sự sắp xếp các phần có chỗ chưa hợp lí, chưa theo trình tự về thời gian. Giá như ở một số chỗ, tác giả đừng sa đà vào sự kiện làm ảnh hưởng đến mạch văn thì sức hấp dẫn của tác phẩm sẽ tốt hơn.

Với tiểu thuyết: “Nguyễn Du trên đường gió bụi”, nhà văn Hoàng Khôi đã phần nào lí giải bằng hình tượng văn học những điểm “mờ” trong cuộc đời và sáng tác của Đại thi hào. Tôi tin rằng, rồi đây, những nhà nghiên cứu, những người yêu mến Đại thi hào của dân tộc sẽ làm sáng tỏ những dự đoán bằng cảm quan văn chương của nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Hoàng Khôi.

Nguyễn Đình Tùng

(Hội Kiều học Việt Nam)

Truyện Kiều văn xuôi

Truyện Kiều là áng văn toàn bích của văn chương Việt Nam mà ít ai là không một lần được học hoặc biết đến. Được sáng tác cách đây từ lâu nhưng Truyện Kiều vẫn còn nguyên giá trị đóng góp cho đời sống tinh thần của người Việt. Là một tác phẩm cổ điển và có nhiều điển tích cho nên đối với nhiều người, nhất là những người trẻ, thưởng thức hết được cái hay của truyện Kiều là một chuyện không dễ.

alt

"Truyện Kiều văn xuôi" của thiền sư Thích Nhất Hạnh là một cây cầu dẫn nối chúng ta đến với cái hay cái đẹp của Truyện Kiều nguyên tác bởi lời dẫn chuyện nhẹ nhàng như ru mà tôi tin chắc rằng đọc xong "Truyện Kiều Văn Xuôi" chúng ta sẽ thấy thoải mái, dễ dàng hơn khi trở về với tác phẩm thơ cũng như cảm nhận được sự uyên bác trong cách sử dụng Tiếng Việt của Thi hào Nguyễn Du.

Thích Tâm Hiệp

Nguyễn Du- Truyện Kiều, bản nôm của Hoàng gia Triều Nguyễn

Quí 1/2017 NXB Lao Động vừa cho ra mắt đọc giả tập sách Nguyễn Du- Truyện Kiều, bản nôm của Hoàng gia Triều Nguyễn, bản lưu tại thư viện Anh Quốc do Nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo- Phó Chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam phiên âm, chú giải và khảo dị. Cuốn sách in 1000 bản dày 544 trang khổ 19x27cm, giấy đẹp, bìa cứng với nhiều minh họa giá trị do Nhà Kiều học Trần Đình Tuấn thực hiện phần kỹ thuật in ấn.

alt

Truyện Kiều của Đại thi hào dân tộc- Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du là một kiệt tác của nền văn học Việt Nam và thế giới, tác phẩm được sáng tác vào thời Tây Sơn khoảng 1796- 1801 và ghi lại bằng chữ Nôm. Đến khi chữ Quốc ngữ trở lên thông dụng thì các học giả đã phiên âm Nôm và mắc khá nhiều tam sao thất bản. Vấn đề khôi phục nguyên tác Truyện Kiều đến nay đã được Hội Kiều học Việt Nam tiến hành những bước quan trọng nhưng vẫn còn dừng lại chờ đợi cho đến khi tìm được nguyên tác Truyện Kiều.

Vừa qua, nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo may mắn sưu tầm được bản Kim Vân Kiều Tân Truyện chép tay có vẽ tranh minh họa hiện đang lưu trữ tại thư viện nước Anh thuộc quyền sở hữu của Hoàng gia nhà Nguyễn cuối thế kỷ XIX. Cuốn sách là công trình chào mừng 185 năm thành lập tỉnh Bắc Ninh (1831- 2016)- là quê ngoại của Đại Thi hào Nguyễn Du và 20 năm tái lập tỉnh Bắc Ninh (1997- 2017).

MT

Tiểu thuyết “Nguyễn Du” của tác giả Nguyễn Thế Quang

Cho đến nay, dù đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu, thơ ca, sân khấu, dịch thuật…nhưng vẫn chưa có một cuốn tiểu thuyết dài hơi nào viết về Nguyễn Du - đại thi hào dân tộc, một nhân vật lịch sử mà tài thơ trác tuyệt của ông thể hiện qua truyện Kiều 3254 câu lộng lẫy và vang dội.

alt

Vì sao như vậy ? Có lẽ có nhiều câu trả lời, giải thích khác nhau hoặc giống nhau của những người sáng tác văn xuôi trước đây cũng như giờ đây– chúng tôi nghĩ vậy.

Anh Nguyễn Thế Quang – Một tác giả mới toanh và nếu chúng tôi không nhầm là người đầu tiên đã giải toả mỗi thắc mắc băn khoăn trên bằng một tập bản thảo bất ngờ dày dặn ngót 600 trang với nhan đề NGUYỄN DU ( tiểu thuyết lịch sử ).

Nguyễn Thế Quang là nhà giáo dạy văn ở trường trung học phổ thông Huỳnh Thúc Kháng ( Thành phố Vinh – Nghệ An ) về hưu đã gần 10 năm nay. Suốt trong thời gian dài dằng dặc ấy anh không làm việc gì khác mà tập trung toàn bộ trí tuệ và sức lực cho cuốn tiểu thuyết anh hằng tâm ước đã ấp ủ từ thời còn đi dạy học.

Công lao sưu tầm, xử lý tư liệu trong nhiều sách vở xưa nay, cộng với nhiều thời gian đi điền dã đó đây những nơi nhà đại thi hào đã từng ở, từng qua và bằng sự lao động sáng tạo cần mẫn của một nhà văn, Nguyễn Thế Quang đã vượt qua trăm ngàn khó khăn gian khổ – kể cả sức khoẻ và bệnh tật để hoàn thành cuốn tiểu thuyết này.

Các nhân vật lịch sử của cả một giai đoạn đầu triều Nguyễn như vua Gia Long, vua Minh Mạng, rồi Ngô Thời Nhậm, Đặng Trần Thường, Hồ Xuân Hương, cả Nguyễn Văn Thành, Ngô Nhân Tĩnh, Vũ Trinh….và nhất là Nguyễn Du – Nhân vật chính, đều được tác giả vẽ lên khá chân thực, đa dạng và sinh động qua các sự kiện có thật mà lịch sử đã ghi lại của cả phía quyền lực và cả phía kẻ sĩ. Đặc biệt, phần lớn sự kiện và nhân vật ấy đều được miêu tả dưới cái nhìn của Nguyễn Du. Điều này, theo chúng tôi vừa tô đậm thêm tính cách của nhân vật chính ( cả ưu và cả khuyết ) vừa góp phần làm nổi bật tư tưởng của tác phẩm.

Tiểu thuyết lịch sử cũng cần có hư cấu, mức độ hư cấu như thế nào thì chúng ta đã biết. Trong tác phẩm của mình tác giả đã dày công nghiền ngẫm, chọn lựa và sáng tạo… để mọi người có thể chấp nhận được. Những sự việc, chi tiết như mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, cuộc đối thoại giữa Gia Long và Nguyễn Du, rồi Nguyễn Du phá long mạch để sau này không có ai trong dòng họ ra làm quan nữa…là chuyện có thật trong đời Nguyễn hay là “ chuyện bịa “ người đọc cũng khó lòng mà phân biệt !

Như vậy, chúng tôi mạo muội nghĩ rằng tác giả đã thành công – một sự thành công đáng giá. Xin trân trọng giới thiệu tiểu thuyết NGUYỄN DU của Nguyễn Thế Quang với đông đảo bạn đọc gần xa.

Hồng Nhu


Vài nét về tác giả Nguyễn Thế Quang:

alt

Sinh năm 1942 tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Cử nhân Văn chương Đại học Vinh, hiện sống tại Thành phố Vinh.

Các tác phẩm chính đã xuất bản;

-Tiểu thuyết NGUYỄN DU NXB Hội Nhà văn và Công ty sách Phương Nam 2010, tái bản 2012, NXB Trẻ 2015. Giải A giải thưởng Hồ Xuân Hương - Nghệ An lần thứ IV (2010-2015)

-Tiểu thuyết KHÚC HÁT NHỮNG DÒNG SÔNG NXB Hội Nhà văn 2013 Giải C cuộc thi Sáng tác Quảng bá phẩm Văn học, Nghệ thuật và Báo chí về chủ đề Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh của Ban Tuyên giáo Trung ương đợt I-2013.

-Tiểu thuyết THÔNG REO NGÀN HỐNG NXB Trẻ 2015, Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2015.

Suy nghĩ về sáng tác Văn chương: Tôi quan niệm viết văn không phải là một nghề vì không phải để kiếm sống. Viết văn là một lao động sáng tạo nghệ thuật cao quý, cực nhọc và thú vị để mình tự hoàn thiện mình, vươn tới những giá trị cao đẹp của sự sống. Viết văn là để gắn bó được nhiều hơn với cộng đồng, để chia sẻ bao nghĩ suy với niềm mong mỏi cho con người được gần nhau hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế, nhà văn phải luôn có trách nhiệm với những trang viết của mình.

Tôi thích viết những đề tài về Lịch sử, đi sâu vào khám phá số phận của Con Người. Viết là để khám phá bản chất đời sống đã qua nhằm đối thoại với thực tại, hướng đến sự tiến bộ. Người đọc tìm đến văn chương không chỉ để nhận biết mà còn để thưởng thức. Vì vậy, nhà văn phải luôn nổ lực đi tìm và tạo nên những vẻ Đẹp để bạn đọc hứng khởi và phấn chấn hơn.

NTQ

Ra mắt ấn bản “Truyện Kiều” bằng chữ Nôm và quốc ngữ

Ngày 24-11, Nhà xuất bản Trẻ, Ban Văn bản “Truyện Kiều” thuộc Hội Kiều học Việt Nam đã chính thức ra mắt mắt ấn bản “Truyện Kiều” mới nhất do Ban Văn bản “Truyện Kiều” hiệu khảo, chú giải. Đây cũng là ấn bản đặc biệt kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du

In song đôi chữ quốc ngữ và chữ Nôm cùng những khảo dị và chú giải được cho là theo tinh thần hiện đại, ấn bản này là tâm sức làm việc nhiều năm của nhà nghiên cứu Hán – Nôm Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, cố giáo sư Nguyễn Văn Hoàn, các nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Khóa, Vũ Ngọc Khôi, PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn, GS Trần Đình Sử và nhà thơ Vương Trọng. Đơn vị xuất bản cũng cho biết, ấn bản mới này là văn bản “Truyện Kiều” vừa hướng đến tầm nguyên, vừa tôn trọng kinh nghiệm tiếp nhận tác phẩm trong gần 2 thế kỷ qua.

Ra mat an ban “Truyen Kieu” bang chu Nom va quoc ngu - Anh 1

Ẩn bản “Truyện Kiều” bằng chữ Nôm và quốc ngữ.

Ra mat an ban “Truyen Kieu” bang chu Nom va quoc ngu - Anh 2

GS Trần Đình Sử, PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn, đại diện NXB Trẻ giới thiệu về ấn bản “Truyện Kiều” in song đôi chữ Nôm và quốc ngữ.

Văn bản cũng đã phục nguyên hơn 400 chữ so với các bản Kiều thông dụng. Tuy chưa theo hướng tập chú đê tái hiện các tiếp nhận trong hai trăm năm song đã tiếp cận những cách hiểu mới nhất. Tuy chưa làm được khảo dị bằng chữ Nôm nhưng những người thực hiện đã khảo dị và khảo đồng bằng âm đọc của trên 12 văn bản Nôm và quốc ngữ cổ. Ấn phẩm in trên giấy xốp nhẹ và các minh họa được sưu tầm từ nhiều văn bản Kiều cổ.

N.H.

Giới thiệu về "Bắc hành tạp lục" của Nguyễn Du

北行雜錄

(Ghi chép tản mạn trên đường đi sứ phương Bắc)


Bắc hành tạp lục (Ghi chép tản mạn trên đường đi sứ phương Bắc) là tập thơ bao gồm 131 bài thơ chữ Hán do Nguyễn Du sáng tác trong khoảng thời gian ông dẫn đầu đoàn sứ bộ nhà Nguyễn sang Trung Quốc từ đầu năm Quý Dậu 1813 đến đầu năm Giáp Tuất 1814 . Đây là một tập thơ nói lên lòng thương cảm sâu xa những người trung nghĩa bị hãm hại, những người tài hoa bị vùi dập, những người lao động cùng khổ bị đói rét cùng nỗi khinh ghét giới thống trị kiêu căng và tàn bạo, được Nguyễn Du nói lên bằng những vần thơ hết sức sâu sắc .

Theo mục lục in trong Thơ chữ hán Nguyễn Du, thì bài thơ mở đầu tác phẩm Bắc hành tạp lục là bài Long Thành cầm giả ca (Bài ca về người gảy đàn ở Thăng Long) được viết khi ông trở ra Thăng Long để lên đường sang Trung Quốc, và bài cuối là Chu phát (Thuyền ra đi) được làm khi đoàn sứ bộ về đến Vũ Xương (Hồ Bắc, Trung Quốc). Kể từ đó không thấy Nguyễn Du sáng tác hay ghi chép gì thêm.

Đa phần thơ trong Bắc hành thi tập là thơ luật, gồm 76 bài thất ngôn bát cú, 11 bài ngũ ngôn bát cú, 18 bài thất ngôn tứ tuyệt; chỉ có 8 bài thất ngôn cổ phong, ngũ ngôn cổ phong và 18 bài trường thiên (thất ngôn, ngũ ngôn hoặc trường đoản cú) theo thể ca và hành.

Phần đầu tập thơ là 9 bài mô tả cảnh vật từ Thăng Long đến ải Nam Quan, theo đánh giá của Từ điển văn học (bộ mới) thì trong số đó có 4 bài viết về cố đô Thăng Long đều là những kiệt tác, nhất là bài Long Thành cầm giả ca. Số còn lại (122 bài) sáng tác trên đất Trung Quốc và lấy đề tài trên đất nước này, có thể chia làm hai nhóm:

Đề tài "lộ trình" gồm khoảng 70 bài, ghi lại những cảm hứng nẩy sinh, những điều tai nghe mắt thấy trên từng chặng đường đi, rồi qua đó nhà thơ giãi bày tâm trạng, như Minh Giang chu phát (Đi thuyền trên sông Minh Giang), Thái Bình thành hạ văn xuy địch (Bên thành Thái Bình nghe tiếng sáo thổi), Sơn Đường dạ bạc (Đêm đậu thuyền ở sông Sơn Đường), v.v...Trong số ấy có bài Trở binh hành (Bài hành về việc binh đao làm nghẽn đường), Thái Bình mại ca giả (Người hát rong ở thành Thái Bình), Sở kiến hành (Những điều trông thấy) đều rất xuất sắc và sâu sắc. Đề tài "vịnh sử" gồm khoảng 50 tác phẩm, trình bày cảm xúc và suy nghĩ về một loạt nhân vật lịch sử Trung Quốc, nhân đi qua các di tích của họ, như Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu (Qua Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu), Dự Nhượng chùy thủ hành (Bài hành về cái dao găm của Dự Nhượng), Sở Bá vương mộ (Mộ Sở Bá vương), Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm hầu tác (Qua sông Hoài, cảm nhớ Hoài Âm hầu) v.v...Ở nhóm thơ này có khá nhiều bài hay và nổi trội hơn cả là bài thơ Phản chiêu hồn.

Theo Từ điển văn học (bộ mới) thì cũng chính từ các nhân vật lịch sử này, mà Nguyễn Du có cớ để bày tỏ "thái độ dứt khoát về lập trường dân tộc đối với các nhân vật đã trở thành điểm đen trong giai thoại và sử sách Việt Nam, như Triệu Đà, Mã Viện, Minh Thành Tổ...đồng thời nhà thơ có cái nhìn đồng cảm, liên tài đối với những nhân vật biểu trưng cho nền văn hóa Trung Quốc, ở các bài nói về Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Kinh Kha, Kê Khang, Lưu Linh, Dương Quý Phi v.v"...

Điều đặc biệt là mặc dù làm Chánh sứ với biết bao nhiêu công việc ngoại giao phiền toái, Nguyễn Du vẫn viết rất khỏe. Bởi khối lượng tác phẩm trong Bắc hành tạp lục được viết trong khoảng hai năm đi sứ, đã trội hơn toàn bộ sáng tác thơ chữ Hán của ông trong suốt mười mấy năm trước cộng lại. Giải thích điều này, Từ điển văn học (bộ mới) có đoạn: Sáng tác được nhiều, một phần vì những vấn đề xã hội trước đây Nguyễn Du mới cảm biết một cách lờ mờ, thỉ bây giờ cuộc sống giúp nhà thơ nhận thấy rõ nét. Phần nữa, nhờ đi ra nước ngoài, nhà thơ có thể mượn nhiều đề tài lấy từ lịch sử và hiện tại của nước người để nói những điều Nguyễn Du muốn nói về nước mình, tránh được sự công kích của các thế lực phong kiến lúc ấy.

Điều đặc biệt khác, Bắc hành tạp lục là một tập thơ sứ trình, vậy mà thơ "thù phụng" (thơ đối đáp, ca ngợi) tuyệt đối không có. Chỉ có, theo GS. Nguyễn Huệ Chi, "con người chủ thể đối thoại với lịch sử. Và lịch sử cũng chỉ được mượn tên để ký thác những hình ảnh, tâm sự, vấn đề thời đại của Nguyễn Du. Tính chất vịnh sử vì thế rất mờ nhạt, trái lại, cá tính sáng tạo của tác giả biểu hiện rất rõ và sâu. Có thể nói Nguyễn Du đã sử dụng vốn sống nhiều mặt, tích lũy được trong thời đại bão táp của mình, để tái hiện lại diện mạo của lịch sử và văn hóa Á Đông truyền thống, thông qua cảm hứng của cái "tôi" trí tuệ và trữ tình".

NĐM

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay62
mod_vvisit_counterHôm qua180
mod_vvisit_counterTất cả31036
Hiện có 30 khách Trực tuyến