Thơ vịnh Kiều trên Nam Phong tạp chí

PGS.TS. Nguyễn Đức Thuận

(Trường Đại học Hải Phòng)

alt

Nam Phong tạp chí(1) là ấn phẩm “Văn học-Khoa học tạp chí”, ra đời từ tháng 7 năm 1979 và đình bản vào tháng 12 năm 1934, với “thành phẩm” để lại là 210 số. Chủ bút tạp chí này là Phạm Quỳnh(2), một trí thức tài hoa, uyên bác, đồng thời cũng là một trong số những cây bút chủ đạo của tạp chí Nam Phong.Đây là một trong những tạp chí hàng đầu đã góp phần hiện đại hóa văn học Việt Nam, ở khu vực “đầu nguồn” của văn học hiện đại những năm đầu thế kỷ XX.

Phần “Văn học” của tờ tạp chí này bao gồm nhiều thể loại; có văn chương sáng tác, như: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, ký; có văn dịch; văn chương sưu tầm, và có cả văn lý thuyết, như: nghiên cứu, phê bình, lý luận văn chương v.v… Thơ ngâm vịnh sáng tác chiếm một lượng không nhỏ trên tạp chí này, bao gồm nhiều đề tài, nội dung, trong đó đặc biệt là thơ vịnh Kiều. Bởi Truyện Kiều là áng văn chương tuyệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, có sức sống sâu rộng và lâu bền trong lòng dân tộc, trở thành đề tài khơi gợi cảm hứng, bày tỏ tâm sự của nhiều người trong xã hội xưa. Từ Truyện Kiều, người ta có thể lảy Kiều, vận Kiều, tập Kiều và với các nhà nho xưa còn có cả vịnh Kiều nữa.

Vịnh cũng là một cách làm thơ của các nhà thơ thuở trước.Thơ vịnh có nguồn gốc từ Trung Quốc và phát triển mạnh vào thời kỳ nhà Đường. Thơ vịnh thường bắt đầu bằng sự miêu tả, nghiêng về thể phú (phú giả phô dã). Về nguyên tắc, việc xác định đối tượng được miêu tả chủ yếu dựa vào nhan đề của bài thơ.Các câu thơ trong bài thường làm nhiệm vụ miêu tả hình dạng, đặc điểm, sự việc, tình và chí của nhà thơ, nhưng tuyệt đối không được nhắc đến từ chỉ đối tượng được vịnh. Thơ vịnh Kiều trên Nam Phong tạp chí cũng tuân thủ những đặc điểm chung này của thơ vịnh.Tuy nhiên, không phải người nào cũng thực hiện được nghiêm nhặt điều đó.

Số lượng thơ vịnhKiều trên Nam Phong tạp chítheo khảo sát của chúng tôi, tổng số có đến 78 bài. Nếu đem thu thập, sưu tầm lại đầy đủ những bài thơ vịnh Kiều trên Nam Phong, cũng có thể làm thành một cuốn sách riêng biệt được. Riêng hai số 54 và 210 đã có tới 46 bài (số 54 có 31 bài; số 210 có 15 bài). Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, trong hoàn cảnh ngặt nghèo của lịch sử, các tác giả có thơ vịnh Kiều nhiều khi nhằm để bày tỏ thái độ, hoặc bóng gió xa xôi một điều gì đó, chứ không hẳn đã là câu chuyện ngâm vịnh thuần túy văn chương.Trong số những bài thơ này, nhân vật trung tâm trong tác phẩm Truyện Kiều là nàng Vương Thúy Kiều được nhiều người cầm bút mến mộ tài sắc, phẩm hạnh và thương xót cho cuộc đời đầy bi kịch của nàng mà viết thơ vịnh nàng nhiều hơn cả. Các nhân vật khác trong Truyện Kiều như Kim Trọng, Thúy Vân, Thúc sinh, Mã Giám sinh, Sở Khanh, Từ Hải…mỗi nhân vật năm ba bài, đều có người này người kia ngâm vịnh!

Thơ vịnh Kiều trên Nam Phong bắt đầu từ bài Vịnh Kiều do Nguyễn Mạnh Bổng sưu tập của cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, đăng trên số 4, tháng 10, năm 1917. Bài này, như đã biết, Nguyễn Khuyến nhằm “chửi mát” Lê Hoan, kẻ đã mở ra cuộc thi vịnh Kiều vào năm 1905:

Thằng bán tơ kia giở mối ra,

Làm cho bận đến cụ viên già.

Và cụ kết thúc bài thơ bằng hai câu thật ý vị:

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ,

Đời trước làm quan cũng thế a?

Tiếp đến số 5, Nam Phong cho đăng 4 bài vịnh do Nguyễn Mạnh Bổng sao lục thêm nữa của cụ là: Vịnh Kiều, Viếng Đạm Tiên gặp Kim Trọng, Mắc tay Hoạn Thư, và Kiều khuyên Từ Hải hàng. Những bài vịnh Kiều của Nguyễn Khuyến cũng như của các tác giả khác, đều làm theo thể thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật. Đặt vào thời điểm những năm đầu thế kỷ XX, nhất là lại nằm trong không khí cuộc thi vịnh Kiều do Lê Hoan tổ chức, nên cảm hứng chủ đạo trong các bài thơ vịnh của cụ là cảm hứng châm biếm, mỉa mai. Nhân vật Thúy Kiều “bỗng dưng” bị cụ Tam nguyên chỉ trích, vì để tỏmột thái độ nào đó, một ý nào đó của cụ đối với xã hội thực dân nửa phong kiến bấy giờ. Ví như bài Mắc tay Hoạn Thư, sau khi Kiều bị bọn Ưng, Khuyển bắt đem về nhà mụ Hoạn, cuối bài thơ vịnh này, cụ Tam nguyên viết lấp lửng:

Con ở ngẩn ngơ nhìn mặt cũ,

Nhà thầy tưng hửng mất đồ chơi.

Ông giời cũng khéo chua cay nhỉ,

Một cuộc bày ra cũng nực cười.

Từ đó cho tới ngày đình bản (tháng 7 năm 1934), trên Nam Phong thường có thơ vịnh Kiều.Liễu viênDương Mạnh Huy có đăng tới 4 bài (Nam Phong số 6, tháng 12/1917): Vịnh nhan sắc Thúy Kiều, Vịnh tài điệu Thúy Kiều, Vịnh nhân duyên Thúy Kiều, Vịnh Thúy Vân. Sắc đẹp “hoa hờn nữa liễu ghen” và cuộc đời “bạc mệnh” của nàng Kiều được người viết miêu tả qua ba bài thơ vịnh với giọng điệu cảm thông thương xót. Còn với Thúy Vân, thì tác giả lại không có được giọng điệu xót thương như thế: “Cái số dì Vân tốt lạ lùng/Sẵn nong, sẵn né, sẵn con bồng/ Thoa vàng nguyền ước nhờ duyên chị/ Thềm ngọc vinh hoa hưởng phúc chồng…”.Tác giả Trần Mỹ trong bài Vịnh Thúy Kiều (số 25, trang 69) “nức tiếng khen” cho nàng Kiều “đôi vai chữ hiếu” và “một món tơ tình” thủy chung”. ĐếnNam Phong số 44, (tháng 2/1921) Vũ Tích Cống với 4 bài: Vịnh Từ Hải, Vịnh Thúc sinh, Vịnh Sở KhanhVịnh Thúy Kiềuđã có thêm ba nhân vật nữa được vịnh. Từ Hải hiện lên thật oai phong, lẫm liệt (“Dọc ngang trời đất hơn trăm trận/ Vùng vẫy giang hồ một lưỡi gươm”), thế mà kết cục thật bi thảm:

Trăm điều ngang ngửa vì ai đó

Cũng tiếc cho tay dúng phải chàm!

Chỉ vài dòng miêu tả khi tác giả “tóm bắt” được đúng hành tích nhân vật, mà gã Sở Khanh hiện lên thật rõ ra là một kẻ đểu cáng, lừa đảo:

Quyến yến rủ anh tay độc địa,

Sổ lồng tháo cũi miệng vung trời.

Đăc biệt, trên Nam Phong tạp chí số 54 (tháng 12/1921), Mai đình Phạm Xuân Khôi đã diễn nôm 30 bài Thơ vịnh Kiều(chưa rõ tên tác giả) và ông sáng tác thêm 1 bài nữa, tổng là 31 bài. Với trên ba mươi bài thơ vịnh này, hầu như toàn bộ những tình tiết chính của nội dung Truyện Kiều đã được thể hiện khá đầy đủ. Bài Tổng vịnh của tác giả Phạm Xuân Khôi đã khái quát những bi kịch của đời Kiều chỉ qua mấy dòng thơ (“Hai phen bán phấn đâu ngờ nợ/ mấy độ xe tơ há phải duyên…”). Các bài thơ vịnh khác, như: Hội đạp thanh, Mộng Đam Tiên, Thàng bán tơ gây vạ, Bán mình chuộc cha, Tơ chị gán duyên em, Gặp Mã giám sinh, Gặp Tú bà, Gặp Thúc sinh, Gặp Bạc bà, Gặp từ Hải, báo ơn báo oán, Gieo mình sông Tiền Đường… đã dựng lại đầy đủ những khúc “đoạn trường” của đời Kiều. Bài vịnh vào chùa Chiêu ẩn có những câu thơ hay nói nên tâm trạng đau xót của nàng Kiều: “Bình hồng trước đã nhiều tân khổ/ Trai giới nay dường nhẹ kiếp duyên/ Chuông gióng canh khuya tàn giấc mộng/ Trăng soi sáng khắp rạng màu thiền…”(trang 505). Khi Kiều bị ép gả cho Thổ quan, tâm trạng của nàng đến cảnh ngộ này là buồn đau nhất. Hai câu thực trong bài Gả cho Thổ quan (trang 507) ngòi bút của tác giả thực đã tả được nỗi lòng Kiều nhi lúc bấy giờ:

Đoạn trường khúc ấy khôn cầm lệ,

Bạc mệnh gương đây thực tỏ tình.

Đủ biết tác giả cũng đã đồng cảm với cuộc đời dâu bể của nàng Kiều đến thế nào!

Trong bài Vịnh Thúy Kiều(số 60, trang 475), Nguyễn Giản Khanh sử dụng thủ pháp “tiêu hình tả ý” (bỏ hình lấy ý) rất đắc dụng, nhằm làm nổi rõ “kiếp đoạn trường” của đời Kiều: “Réo rắt dây đàn cung bạc mệnh/Ngẩn ngơ nét bút áng mây vàng/ Mười lăm năm ấy thân lưu lạc/Trời để làm gương bạn má hường”. Cũng với thủ pháp này, bài Vịnh Kiều (số 60, trang 475) của Đặng Xuân Quýnh nói về cảnh ngộ Kiều dặn lại em trước lúc ra đi, giọng điệu thật thê thảm:

Ân nặng đã đành thân phận chị

Tình sâu em phải tính sao đây?

Đặc biệt, bài thơ vịnh Khóc Kiều của Trần Huy Liệu (số 96, trang 588) có lẽ không dừng ở câu chuyện chia sẻ thân phận “bạc mệnh hồng nhan” và cuộc đời “đoạn trường” của nàng Kiều, mà ẩn sau lời kết bài thơ còn có điều gì đó xa xôi…

Chỉ vì chưa gặp người tri kỷ

Mà luống long đong mãi với đời.

Lối kết thúc bất ngờ này làm cho ý bài thơ vịnh đã chuyển sang hướng khác!

Bài vịnh Thúy Kiều của Phác Ngọc (số 106, trang 500), xét trên bình diện ngôn ngữ, tác giả sử dụng chất liệu ngôn từ vừa đủ mà ý thơ vẫn dư ba: “Rớp nhà đến nỗi thân lưu lạc/ Bạc phận xui nên kiếp dãi dầu!/ Lấy hiếu làm trinh đà mấy kẻ/ Tiền Đường một dải nước nông sâu”. Cho đến bài Thương Kiều gặp phải mụ Hoạn Thư ghen tuông rất nghiêm khắc của Lý khê Đặng Vũ Trợ (số 112, trang 614) tác giả muốn “nhắn nhủ bạn quần thoa” cảnh “chồng chung” như đời Kiều đây thì đau khổ biết chừng nào:

Trước hàm sư tử gửi đằng la,

Oan nghiệt vì đâu giở mối ra!

Bó gối ngán thay chàng tuổi trẻ,

Trêu gan riêng giận chị trăng già…

Sở Khanh là một nhân vật xấu xa bởi hành vi lừa lọc, “một tay chôn biết mấy cành phù dung” ở lầu xanh, qua ngòi bút của Nguyễn Huy Đại càng không mấy ai quên: “Kìa tiên “tích việt” chưa khô mực/ Mà ngựa truy phong đã tếch ngàn”( số 113, trang 89). Lấy cảm hứng từ những nhân vật phản diện, Trực viên Phạm Văn Nghị đem đến cho người đọc hình ảnh của mấy gã “làng chơi”, kẻ “bạc tình”, kẻ “keo kiệt” đê tiện, “bất lương” qua ba bài thơ vịnh khá đặc sắc. Đây là hình ảnh Thúc sinh: “Cao bay xa chạy còn khuyên hão/ Một án bạc tình chối được chăng?”; Mã Giám sinh: “Cờ đã đến tay liền phất thử/ Lời văng vào mặt cũng xin đành”; và đây là hình ảnh của gã “đại bịp” Sở Khanh: “Mặt mũi nhìn xem cũng dịu dàng/ Lầu xanh luẩn quất kiếm ăn thường/…Ba mươi lạng bạc kia là mấy/ Đế mãi ngàn thu tiếng bất lương”( số 145, trang 625). Đến số chót, số 210 (tháng 12/1934), Nam Phong tạp chí đăng tất thảy 15 bài vịnh Kiều của tác giả Hương Sơn. Không giống với nhiều bài vịnh Kiềutrước đó, hấu hết các nhân vật trong Truyện Kiều đều “được” tác giả nhìn lại bằng một góc nhìn khác. Đây là hình ảnh Thúy Kiều trong con mắt tác giả: “Thôi đừng trách lẫn mệnh ghen tài/ Vì mối tơ tình buộc đấy thôi/ Mồ cỏ thương hoài con đĩ dại/ Bóng hoa mê tít cậu đồ choai…”(số 210, trang 346). Với Kim Trọng, thì:

Chỉ quen phong nhã nghề chim gái,

Chẳng giữ trâm anh cái nếp nhà.

Còn về Thúy Vân, tác giả như “đi guốc vào trong bụng” của nàng: “Tình chị thôi em đã hiểu rồi/ Giả vờ mà hỏi thử nhau chơi/ tơ duyên nếu chắp người hôm nọ/ Chẳng lạy thì em cũng chịu lời…”(số 210, trang 346).

Thơ Vịnh Kiều trên Nam Phong tạp chí quả thật là đa dạng và đem đến cho người đọc nhiều thú vị.Truyện Kiều của thiên tài Nguyễn Du đúng là một kiệt tác, mà ở đó người đọc có thể lấy cảm hứng để làm nên biết bao nhiêu bài thơ ngâm vịnh.Cái “khéo” của người làm thơ vịnh là biết “tóm bắt” lấy những đặc điểm cơ bản của nhân vật, cảnh ngộ, chi tiết… của tác phẩm để thể hiện trong bài thơ vịnh của mình. Vận dụng sáng tạo đặc trưng của thể thơ ngâm vịnh, các cây bút vịnh Kiều trên Nam Phong đã đem đến cho người đọc nhận thức sâu sắc hơn về tác phẩm Truyện Kiều. Và điều thú vị là ở chỗ, nhiều tác giả đã tiếp nhận thế giới nhân vật Truyện Kiều từ những góc độ khác nhau, đem đến cho người đọc những cảm hứng mới.Nếu tiếp tục phân tích những bài thơ vịnh Kiều trên Nam Phong tạp chí, chắc chắn chúng ta sẽ còn tìm thêm được nhiều điều thú vị.

N.Đ.T

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1). Nam Phong tạp chí: Văn học-Khoa học tạp chí, Đông Kinh ấn quán, Imprimerie tonkinoise 14-16, Rue du Coton, Hanoi (từ tháng 7/1917-12/1934).

(2). Phạm Thị Ngoạn, Tìm hiểu Nam Phong tạp chí 1917-1934. Nguyên tác Pháp văn đăng trong Kỷ yếu đệ nhị và đệ tam cá nguyệt 1973 của Hội nghiên cứu các vấn đề Đông Dương (Bulletin de la Societé des Etudes Indochinoises), Ý Việt, 1993.

(Phạm Quỳnh (1892-1945), bút danh Thượng Chi, Hồng Nhân, Hoa Đường, Lương Ngọc. Nguyên quán tỉnh Hải Dương. Năm 1908 đỗ thủ khoa trường Trung học bảo hộ (Collefge du Protectorat), từng làm ở Viện Viễn Đông Bác  Hà Nội. từ năm 1917-1932 Phạm Quỳnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong).

(3). Từ điển văn học, bộ mới, Nhà xuất bản Thế Giới, 2004.

(4). Vũ Ngọc Phan, (1998), Nhà văn Việt Nam hiện đại, tập 1, Văn học, Hà Nội, trang 119.

(5). Phạm Quỳnh (1892-1945), Tuyển tập và di cảo (1992), Bản quyền Phạm Thị Hoàn, An Tiêm, Paris, trang 378.

(6). Nguyễn Du (1971), Truyện Kiều,NXB Văn học, Hà Nội.

(Bài đã đăng trên Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội, Volume 58, Number 2, năm 2013, tr. 27-31).

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay9
mod_vvisit_counterHôm qua151
mod_vvisit_counterTất cả49198
Hiện có 9 khách Trực tuyến