Tính chất thương mại trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Hưởng ứng cuộc vận động viết cho Hội thảo

“Doanh nhân với Truyện Kiều Truyện Kiều với Doanh nhân”

do Hội Kiều học Việt Nam và Tổng công ty Hanvico đồng tổ chức

vào tháng 9/2017 tại Hà Nội

alt

TÍNH CHẤT THƯƠNG MẠI TRONG TRUYỆN KIỀU

CỦA NGUYỄN DU

Bùi Vụ - Phương Văn

Đồng tiền được sinh ra trong đời sống xã hội là một thành tựu – như một phát minh lớn của loài người! Nó cũng giống như con người tìm ra lửa, ra rượu – rồi giữ được rượu và lửa đồng hành trong xã hội loài người!

Phát minh ra tiền – lửa – và rượu đã đóng góp cho giá trị đời sống con người biết bao niềm vui và hạnh phúc. Ngược lại, Tiền – Lửa – và Rượu cũng gây không biết bao nhiêu phiền toái cho cuộc sống – thậm chí nó còn đem lại nhiều sự khổ hạnh, điêu đứng và có thể cả cái chết rất thương tâm nữa! Hai mặt của một vấn đề phát kiến lớn Tiền – Lửa – và Rượu ấy phụ thuộc vào ý thức của con người khi sử dụng – đặc biệt là “đồng tiền” – Vì nó mà con người sung sướng, hạnh phúc và cũng vì nó mà con người lao đao, khổ hạnh!

Nguyễn Du đã nhìn rõ tính hai mặt của một vấn đề đó, nên ông đã miêu tả đồng tiền như một vấn nạn xã hội trong Truyện Kiều. Người ta ngang nhiên sử dụng đồng tiền như một uy lực để đẩy Thúy Kiều vào cái bẫy của sự khốn cùng, khiến nàng như một đồ vật dễ dàng mua bán!

“Một ngày lạ thói sai nha/ Làm cho khốc hại, chẳng qua vì tiền” – Bọn sai nha chỉ nghe vu vơ “phải tên xưng xuất tại thằng bán tơ”, rồi cậy công quyền đề phá nhà, cướp của và bắt cha con Vương Ông, Vương Quan. Sau đó dùng chiêu ngon ngọt, tống tiền: “Tính bài lót đó luồn đây/ Có ba trăm lạng việc này mới xuôi” và trắng trợn nói với Thúy Kiều như một việc hiển nhiên phải làm rằng: “Quy liệu trong đôi ba ngày” đủ tiền thì chúng sẽ tha cha con Vương ông!

Nhà Thúy Kiều chỉ “thường thường bậc trung” nên không thể có ngay “ba trăm lạng”. Điều đó đã đẩy Kiều vào quyết sách “Rẽ ra cho chị bán mình chuộc cha”! Thế là cuộc mua bán người diễn ra mau chóng. Kẻ mua người là Mã Giám Sinh đã “Quá niên trạc ngoại tứ tuần/ Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”.

Mã Giám Sinh nghe lời Tú Bà – Chủ một cơ sở kinh doanh Lầu xanh – đã cùng nhau dùng tiền “đi dạo lấy người/ Đem về rước khách kiếm lời mà ăn”.

Như trên đã thấy rõ hai kiểu tiêu tiền. Thúy Kiều không có tiền, nàng đã phải bán mình lấy ba trăm lạng để báo hiếu – cứu cha, cứu em trai khỏi đi ở tù. Một cử chỉ nghĩa hiệp sáng chói của đồng tiền! Còn bọn nha dịch thì “tham lam, vơ vét xô đẩy Thúy Kiều vào con đường “Bên trời góc bể bơ vơ/Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”! Đến nỗi Kiều phải thốt lên trước sự đánh đập tàn nhẫn của Tú Bà: “Thân lươn bao quản lấm đầu/Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”! Nàng phải chấp nhận “làm gái” để hàng ngày chịu cho Tú Bà “kiếm lời mà ăn” trên thân xác người khác. Đó là những đồng tiền dơ dáy mà Tú Bà nhẫn tâm thu vén!

Ngược lại, trong Truyện Kiều Nguyễn Du quan tâm đến cách tiêu tiền sang trọng của một nhà buôn họ Thúc tên Sinh: “khách du bỗng có một người/ kỳ tâm họ Thúc, cũng nòi thư hương”. Chàng tìm đến “Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi/ Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào”.

Thúc Sinh là tay chơi, buôn bán lắm tiền, nhiều bạc. Biết thưởng thức cái đẹp trong cuộc sống thương trường. Nhất là với Thúy Kiều thường “khi gió gác, khi trăng sân/ Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ/Khi hương sớm, khi trà trưa/Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn”. Chàng biết rõ “cái sóng khuynh thành/ Làm cho đổ quán, xiêu đình như chơi” nhưng chàng vẫn “quen thói bốc rời/ Trăm ngàn đổ một trận cười như không”! Chàng là một nhà buôn thành đạt nên không sá chuyện tiêu tiền vào việc nghĩa – cứu một người đẹp sa cơ, lỡ bước. Chàng trân trọng ngỏ “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”! Những lời tình cảm “có cánh” đã làm xiêu lòng người đẹp khiến Thúy Kiều cảm động “Muôn đội ơn lòng/Chút e bên thú, bên tòng dễ đâu”! Nàng cảm phục chàng là người giàu có, lại hào phóng và cũng có “nòi thư hương” nhưng nàng vừa ngại “bên thú, bên tòng” nhưng lại vừa muốn chối bỏ chốn lầu xanh nhơ nhớp, nên đã thổ lộ phó thác vào chàng Thúc Sinh “Thương sao cho vẹn thì thương/ Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng”! Đừng để cho nàng “Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh/ Lại càng dơ dáng dại hình/ Đành thân phận thiếp/ Ngại danh giá chàng”!

Nghe nàng thổ lộ tình cảm thật thà, thân thương phân tích phải trái, nên Thúc Sinh tìm ngay gặp mặt Tú Bà: “Rõ ràng của dẫn tay trao/Hoàn lương một thiếp, thân vào cửa công/Công tư đôi lẽ đều xong/Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai”!

Nguyễn Du đã miêu tả mối tình đẹp đẽ tình người giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều – đặc biệt là ngợi ca một Thúc Sinh lắm tiền, nhiều bạc và biết tiêu tiền vào một việc ân nghĩa, chí tình, chí lý: “Từ thuở tương tri/Tấm riêng, riêng những nặng vì nước non/Trăm năm tính cuộc vuông tròn”. Chàng tiêu đồng tiền là có suy nghĩ. Tiêu vào lời thề “non nước/Tính cuộc vuông tròn” chứ không tiêu tiền vào việc không xứng “đồng tiền, bát gạo”! Cao cả hơn, chàng đã biết dùng đồng tiền để cứu nàng thoát khỏi bàn tay nhơ bẩn Tú Bà! – Đúng là đồng tiền nghĩa khí!

Trong Truyện Kiều – không phải một lần mà là rất nhiều lần, Nguyễn Du đã bất bình miêu tả những cuộc tiêu tiền bẩn thỉu, hại người như bọn: Sai nha, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh… chỉ mưu đồ đẩy con người “vào kiếp phong trần” là cái kiếp bất công “sao cho sỉ nhục một lần mới thôi” – như kiếp Thúy Kiều!

Trong xã hội Truyện Kiều, không chỉ có những loại thương nhân lạm dụng đồng tiền vào việc hại người như trên đã nói – mà Nguyễn Du đã nhìn thấy và miêu tả cả những giai tầng thượng lưu đương thời cũng lạm dụng đồng tiền như một quyền năng xô đẩy con người một cách thô bạo vào sự khổ hạnh – và lấy làm hả hê, sung sướng – hệt như họ có quyền làm như vậy!

Điển hình là nhân vật Hoạn Bà – ngang nhiên sai gia nhân là Khuyển và Ưng tổ chức đi bắt Thúy Kiều đã được con rể là Thúc Sinh mua về làm thiếp ở cửa hàng trên Lâm tri. Bọn Khuyển – Ưng phóng hỏa đốt cửa hàng của Thúc Sinh, đổ thuốc mê rồi bắt cóc Thúy Kiều đem về cho Hoạn Bà. Bọn Khuyển – Ưng còn đặt một xác người chết trôi, vô thừa nhận vào cửa hàng đang cháy – vờ đó là Thúy Kiều đã bị chết cháy. Nhưng thực ra, Thúy Kiều không chết, bị Hoạn Bà đem về hành hạ phủ đầu để bịt miệng Thúy Kiều: “Đã đem mình bán cửa tao/ Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này”! Nói xong Hoạn Bà phán ngay: “Nào là gia pháp nọ bay/Hãy cho ba chục, biết tay một lần”!

Hoạn Bà cậy quyền gia đình giàu có, là phu nhân quan Thượng thư triều đình nên ra oai, làm chiêu lừa miếng cho con gái là Hoạn Thư có điều kiện hành hạ, làm nhục tinh thần Thúy Kiều phải bỏ ý định làm thiếp với Thúc Sinh – là phu quân Hoạn Thư! Đến nỗi sau đó Kiều phải trốn khỏi nhà Hoạn Thư và rồi lại sa cơ vào lầu xanh một lần nữa!

Chưa hết – Nguyễn Du còn miêu tả một quan to ở triều đình cũng đã dùng đồng tiền để đưa Thúy Kiều vào bẫy – Đó là việc Hồ Tôn Hiến nhận lệnh triều đình đi dẹp Từ Hải – là một “đấng anh hùng”. Từ Hải cũng đã phải dùng tiền để làm một nghĩa cử chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh lần thứ hai từ tay Bạc Bà: “Ngõ lời nói với băng nhân/ Tiền trăm lại có nguyên ngân phát hoàn” sau đó cưới nàng làm phu nhân trước binh hùng, tướng giỏi!

Hồ Tôn Hiến biết rõ mình không đủ tài sức đọ gan chiến tuyến với Từ Hải, nên đã tìm hiểu: “Biết Từ là đấng anh hùng/Biết nàng cũng dự quân chung luận bàn” – Thế là Hồ Tôn Hiến dùng chiêu lừa dụ vòng vo tới nàng Kiều. Hắn cho “Đóng quân làm trước chiêu an/ngọc vàng, gấm vóc, sai quan thuyết hàng”. Vì biết rõ Thúy Kiều thật thà, cuộc đời đã thấm thía vinh nhục của đồng tiền – lại đang khát khao tìm kiếm đoàn tụ gia đình yên ấm, nên Hồ Tôn Hiến khôn ngoan dùng chiêu “Lại riêng một lễ với nàng/ Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân/tin vào gửi trước trung quân”!

Từ Hải ngang tàng, tự tin và nói: “Bó thân về với triều đình/ Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu/ Áo xiêm ràng buộc lấy nhau/ Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi/ sao bằng riêng một biên thùy”!

Ngược lại, Thúy Kiều đã chán kiếp giang hồ, nàng thấm thía giá trị đồng tiền mà cuộc đời nàng đã trải nghiệm. Vì vậy tâm trạng của nàng muốn Từ Hải yên thân về với triều đình để nàng có cơ hội gặp và xum họp với gia đình họ Vương!

Từ tình cảm đó, Từ Hải mủi lòng, thương Kiều nên đã quyết “Thế công, Từ mới trở ra thế hàng/Chỉnh nghi tiếp sự vội vàng/Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh”!

Không ngờ - đó chỉ là chiêu lừa đảo của Hồ Tôn Hiến đối với Thúy Kiều và Từ Hải mà thôi! Hồ-Tôn-Hiến liền “Quyết kế thừa cơ/Lễ tên, binh hậu khắc cờ lập công/kéo cờ chiêu phủ tiên phong” – trong khi Từ Hải: “Đang khi bất ý chẳng ngờ/Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”! Cuối cùng: “khí thiêng khi đã về thần/Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng”! Từ Hải uất quá đã chết đứng trước vòng tên đạn của Hồ Tôn Hiến!

Thúy Kiều một lần nữa bị lừa bởi đồng tiền của Hồ Tôn Hiến đã sử dụng một cách hèn mạt khi không đối đầu được với Từ Hải! Thúy Kiều hối hận và đã phải khóc dưới chân Từ Hải: “trí dũng có thừa/Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này/ Mặt nào trông thấy nhau đây/Thà liều sống chết một ngày với nhau/Dòng thu như xối cơn sầu/ Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên/Lạ thay ơn khí tương triền/ Nàng vừa gục xuống, Từ liền ngã ra”!

Nguyễn Du đã nhìn rõ trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ thương mại đã phát triển. Các nhà buôn tự do chưa có tâm hướng “thiện – ác” rõ ràng – Họ chỉ quen sử dụng tiền bạc như là một quyền năng tối ưu để dành cuộc sống hơn người! Và vì vậy, nhiều cuộc đời trong xã hội phải gánh chịu bất công – như Thúy Kiều đã bị đẩy vào cuộc sống giang hồ đến 15 năm dòng!

Trong xã hội ngày nay – trước khi trở thành Nhà Doanh nghiệp, họ đã ý thức rõ đối tượng của doanh nghiệp là ai? Vì thế họ đi đúng hướng và thu lại được nhiều tình cảm tốt đẹp của người tiêu dùng! Nhưng cũng không ít các doanh nhân vì lợi nhuận đồng tiền để buôn bán những sản phẩm có hại cho sức khỏe con người – Điều đó cũng đúng như Nguyễn Du xưa cũng đã nói trong Truyện Kiều rằng: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”! Câu nói ấy như một kim chỉ nam khi người doanh nhân buôn bán và sử dụng đồng tiền trên thương trường và trong xã hội sao cho có Tâm có Tín!.

Hà Nội, 5/2017

Bùi Vụ - Phương Văn

Địa chỉ liên hệ:

1. TS Văn học Bùi Vụ - Tổng giám đốc Tập đoàn tài chính Việt Nga

(DĐ: 0913235974)

2. Phương Văn – Hội Kiều học Việt Nam

(DĐ: 01288345567)

Nguyễn Du và Truyện Kiều trong nhãn quan người Thái Bình

Bài Tổng luận – Giới thiệu cuốn “Thái Bình với Nguyễn Du và Truyện Kiều” – Tập III – NXB Phụ nữ - 2016, đọc tại buổi tọa đàm ra mắt tập sách, ngày 06/5/2017

alt

Bài viết khái quát những nội dung chính trong cuốn sách “Thái Bình với Nguyễn Du và Truyện Kiều” – Tập III – NXB Phụ nữ năm 2016.

Qua đọc 3 tập sách “Thái Bình với Nguyễn Du và Truyện Kiều” mà chi hội ta đã xuất bản trong vòng 4 năm qua, tôi có một nhận xét tổng quan là: Những người trong Ban Đại diện, Ban Biên tập ngay từ đầu, ngay từ tập I, đã định hướng cho những tác phẩm viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều của người Thái Bình, mục tiêu, phương hướng hoạt động của Hội Thái Bình trong hiện tại và tương lai, với tiêu đề của cuốn sách rất ngắn gọn và chuẩn xác.

Trong không gian, mục đích của cuộc tọa đàm, để điểm lại những nội dung chính trong tập III này, tôi xin được lấy tựa đề bài viết là “Nguyễn Du và Truyện Kiều trong nhãn quan của người Thái Bình”.

Trước hết, nói về bố cục cuốn sách, như trong mục lục, chia làm 2 phần: Phần tiểu luận (nói chung là văn xuôi) gồm 38 bài của 26 tác giả, phần thơ gồm 85 bài của 38 tác giả, trong đó có cả bài Khấp Tố Như của cụ Hoài Yên, Hà Nội do tác giả Lê Ngọc Kim giới thiệu, nay tôi đưa lên phần Văn xuôi, vì bài đó là bài văn theo thể văn biền ngẫu cổ phong, chứ không phải là thơ. Như vậy là phần văn xuôi có 39 bài của 26 tác giả, và phần thơ gồm 84 bài của 37 tác giả.

Với phần văn xuôi, tôi xin được điểm một số bài theo thứ tự đã sắp xếp trong tập.Mở đầu là bài “Thái Bình kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào dân tộc – Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du” của nhà thơ Ánh Tuyết, Trưởng VPĐD Hội Kiều học VN tại Thái Bình, là bài diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào tại Thái Bình năm 2015, tác giả đã khái quát tầm vóc tư tưởng, tầm vóc nghệ thuật của Đại thi hào Nguyễn Du qua kiệt tác Truyện Kiều, thân thế, sự nghiệp của ông, đặc biệt nhấn mạnh về vai trò của mảnh đất, con người Thái Bình trong thời gian ông về đây sinh sống và sáng tác, đã ảnh hưởng và tác động thế nào đến một phần cuộc đời và nhất là tác phẩm của ông, trong đó có kiệt tác Truyện Kiều, cũng như tình cảm của quê hương, con người Thái Bình đối với ông.

Trong bài viết tiếp theo: “Nguyễn Du – Nhà tiên tri vĩ đại”, bằng những luận điểm, dẫn chứng về ảnh hưởng của Truyện Kiều trong đời sống hàng ngày của nhân dân, như là việc bói Kiều, cho đến trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, như những lần các vị Tổng thống, Phó Tổng thống Mỹ đã trích Kiều, lẩy Kiều trong những lần đến thăm Việt Nam, rất phù hợp với hoàn cảnh thực tế đương đại, để đi đến một luận điểm: Nguyễn Du là một nhà tiên tri vĩ đại! Đây có lẽ là một phát hiện mới mà chúng ta cần tiếp tục bổ sung, củng cố, làm rõ thêm.

Tiếp đó đến 2 bài của tác giả Đào Xuân Ánh – Hội viên Hội VHNT Thái Bình, Hội viên Hội KHLS Việt Nam. Bài thứ nhất: “Với Truyện Kiều – Nguyễn Du đã mượn bối cảnh xã hội Trung Quốc để phản ánh thực trạng xã hội Việt Nam đương đại”. Bằng việc đối chiếu với bối cảnh lịch sử khách quan của thời kỳ cuối triều Lê, Tây Sơn và đầu triều Nguyễn (1765 – 1802), tương thích với thời kỳ đời Gia Tĩnh  của nhà Minh (1522 – 1566), tác giả đã đặt Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều của ông trong bối cảnh lịch sử này để chứng minh một luận điểm rằng: hoàn cảnh lịch sử đương đại của Việt Nam thời đó đã ảnh hưởng đến cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, quan điểm của Nguyễn Du và truyện Kiều, và việc ông “Việt Nam hóa” cốt truyện, bối cảnh lịch sử của Trung Quốc trong tác phẩm Truyện Kiều.

Với bài viết thứ hai: “Những nhân vật phản diện tiêu biểu “để đời” trong Truyện Kiều qua ngòi bút của Nguyễn Du”. Qua những phân tích xác đáng về tính cách nhân vật phản diện tiêu biểu trong Truyện Kiều: Mã Giám sinh – Tú bà – Sở Khanh – Hoạn thư, sử dụng văn học so sánh, đối chiếu với nguyên tác Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân của Trung Quốc, để chứng minh cho luận điểm: Các nhân vật phản diện tiêu biểu trong Truyện Kiều đã được Nguyễn Du điển hình hóa cao độ đến mức trở thành dân gian hóa, thành ngữ hóa, Việt hóa, đi vào đời sống dân gian Việt Nam từ khi tác phẩm ra đời đến nay và tồn tại mãi mãi trong tương lai.

Với bài: “Cảnh xuân trong Truyện Kiều”, tác giả Lê Thanh Bình, với việc phân tích đoạn thơ tả cảnh xuân tiết thanh minh trong tiểu cảnh chị em Thúy Kiều đi du xuân, tảo mộ, bằng một giọng văn khá hào hoa, chau chuốt và mang chất thơ, tác giả đã hướng người đọc tiếp cận đến phong cách tả cảnh, tả tình đầy hào hoa, ý nhị, vừa tao nhã, quý tộc, vừa bác học, vừa bình dân, Việt hóa phong cảnh làng quê việt Nam trong trích đoạn này. Một cảnh xuân đẹp mà chua xót, đối lập giữa sự sống và cái chết, đó cũng là nhân sinh quan của Nguyễn Du.

Với bài “Nguyễn Du trong trái tim nhân loại”, tác giả Nguyễn Bá Chúng, năm nay bác đã 90 tuổi, một trong những sáng lập viên của Hội Kiều học Việt Nam tại Thái Bình lại tâm đắc về buổi nói chuyện của TT Obama tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, sáng ngày 24/5/2016, với kết thúc bằng trích hai câu Kiều: “Rằng trăm năm cũng từ đây/ Của tin gọi một chút này làm ghi”, và qua sưu tầm  những bài thơ của những trí thức, nghệ sỹ tên tuổi của Mỹ và thế giới để nói lên sức ảnh hưởng của Truyện Kiều và Nguyễn Du trên bình diện quốc tế.

Nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử Phạm Minh Đức có bài “Đoàn Nguyễn Tuấn, anh vợ Đại thi hào Nguyễn Du”, khái quát cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của Đoàn Nguyễn Tuấn, vừa là anh vợ, bạn học, bạn văn của Nguyễn Du qua tác phẩm “Hải Ông thi tập” của người “Sào phủ” Phong nguyệt Sào, tại làng Hải An.

Tác giả Phạm Xuân Đào có bài “Cụ Nguyễn Du thiêng thật”, kể về một kỷ niệm được nghe nhà văn Hoài Thanh nói chuyện về buổi lễ kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du với khu gang thép Thái Nguyên, nhân Đại thi hào lần đầu được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới, và trích những đoạn văn, đoạn thơ, bình luận của các nhà văn hóa nước ngoài đối với Nguyễn Du và Truyện Kiều.

Với bài “Thơ xuân Nguyễn Du cảm xúc từ quê vợ”, tác giả Lương Hữu, nhà thơ lão thành của Thái Bình, cũng là một trong những người  sáng lập Hội Kiều học ở Thái Bình đã bình ba bài thơ chữ Hán trong “Thanh Hiên thi tập” mà Nguyễn Du viết trong thời kỳ “mười lăm gió bụi” ở Thái Bình, với cảnh vật, nỗi niềm u uất, tha hương, cái mặc cảm “ăn nhờ ở đậu”. Cũng đúng thôi, Nguyễn Du vốn dòng dõi trâm anh thế phiệt, giới quý tộc thượng lưu, thân lúc nhỏ là cậu ấm, lớn lên đã từng làm quan, một sỹ phu, chí ở bốn phương, nay gặp thời tao loạn, gia cảnh ly tán, thân là một nam tử đại trượng phu, nay phải nương nhờ nơi quê vợ trong cảnh khốn cùng, chẳng đau xót lắm ru?

Vũ Quốc Huệ, một nhà giáo dạy Trung văn, dịch giả, hội viên Hội VHNT Thái Bình có bài “Tổng thống Hoa Kỳ lẩy Kiều và người Thái Bình hiện đại”. Trong bài viết, ông cũng điểm lại ba lần các tổng thống và phó tổng thống Hoa Kỳ lẩy Kiều khi thăm Việt Nam và tiếp đoàn cao cấp của ta tại Mỹ, song ông cung cấp một chi tiết thú vị mà không phải ai cũng biết: Đó là: anh Phạm Tuấn Anh, người con của xã Quỳnh Hoàng, Quỳnh Phụ, Thái Bình là người được chính Văn phòng Nhà Trắng chọn làm phiên dịch chính thức cho các lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và nhà nước ta khi tiếp xúc với TT Obama và Phó TT Joe Biden tại Hoa Kỳ và trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của TT Obama. Cũng chính anh là người tham mưu và chọn 2 cặp Kiều cho Phó TT Joe Biden khi TT và Phó TT Mỹ tiếp Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tại Nhà Trắng, và TT Obama thăm Việt Nam tháng 5/2016. Như vậy, một lần nữa lại ghi dấu ấn con người Thái Bình trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại thời hiện đại, gắn với kiệt tác Truyện Kiều và Đại thi hào Nguyễn Du.

Đỗ Lâm Hà, một cây bút viết tiểu luận chững chạc của Hội VHNT Thái Bình có bài “Say Kiều hạ bút thành chương”. Trong bài viết, tác giả bình về tác phẩm thơ trường thiên “Say Kiều” của Nguyễn Công Viễn, một hội viên của Hội VHNT Thái Bình. Ông đã chuyển thể thơ lục bát trong Truyện Kiều của Nguyễn Du sang thể thơ bảy chữ, gồm 3142 câu, 785 khổ thơ 4 câu và 1 khổ thơ 2 câu. Âu cũng là một sự kỳ công và tâm huyết của ông với Nguyễn Du và Truyện Kiều vậy. Ngoài bài này, Đỗ Lâm Hà còn có bài viết “Những điều đọc thấy mà soi thức lòng”, điểm, bình cuốn “Thái Bình với Nguyễn Du và Truyện Kiều” tập II.

Nguyễn Minh Hoàng, Phó VPĐD Hội Kiều học Việt Nam Thái Bình với bài viết “Trông người… lại ngẫm đến ta”. Trong bài viết, tác giả khái quát những việc đã làm được, những đóng góp, những tác phẩm của Hội Trung ương, của những chi hội các tỉnh và những cá nhân trong toàn quốc đối với Nguyễn Du và Truyện Kiều, kể từ ngày thành lập Hội đến nay, đó là “trông người”, và “lại ngẫm đến ta”, đó là những đóng góp của Chi hội Thái Bình, của người Thái Bình với Nguyễn Du và Truyện Kiều, nhất là hai tập “Thái Bình với Nguyễn Du và Truyện Kiều” tập I và II (cho đến thời điểm ông viết bài này) để minh chứng một điều: Thái Bình là (một trong những) cái nôi nuôi dưỡng (làm nên) thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Du. Và, người Thái Bình yêu Truyện Kiều không phải vì Nguyễn Du là chàng rể quý, mà là thơ Kiều đã nhập hồn vào bao thế hệ người dân quê lúa…

Tác giả Trương Công Hạnh đề cập tới một nhân vật không có tên cụ thể, đó là nhân vật “người khách viễn phương”, một nhân vật mà có lẽ, không nhiều người để ý tới, trong bài viết “Người khách viễn Phương trong Truyện Kiều của Nguyễn Du”, mà theo tác giả, đó là một nhân vật “đã để lại dấu ấn khó phai mờ cần được làm sáng tỏ. Đó cũng là một ý tưởng hay.

Tác giả Phạm Quốc Khánh thì giới thiệu tám lần Thúy Kiều chơi đàn trong bài viết “Tám bản đàn của nàng Kiều trong Truyện Kiều”, trong đó tác giả phân tích, mổ xẻ 4 lần chơi đàn với 4 bản đàn tiêu biểu, đặc biệt nhất, với những cảm nhận, kiến giải  lý thú, sâu sắc, với kiến thức về âm nhạc cổ và điển tích cổ một cách am tường. Qua đó, tác giả muốn khẳng định: Nguyễn Du “chẳng những là một Đại thi hào mà còn là một nhạc sỹ am hiểu sâu sắc về nhạc lý” (trích nguyên văn câu trong bài viết). Về điểm này, cá nhân tôi hoàn toàn nhất trí với tác giả Phạm Quốc Khánh.

Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi với truyện ngắn “Nhân duyên”, tác giả lấy bối cảnh câu chuyện về một cuộc trò chuyện giữa ba anh em là Nguyễn Khản, Nguyễn Điều và Nguyễn Du với một vị danh sỹ tại phủ Xuân Quận Công để nói về  khởi nguồn tư tưởng của Nguyễn Du từ lúc bé và kết luận: cái “nhân duyên” của Nguyễn Du với nàng Kiều sau này âu cũng là “quả kiếp nhân duyên” tiền định, để có một kiệt tác Truyện Kiều.

Tác giả Nguyễn Văn Thục, cây bút truyện ngắn và ký khá kỳ cựu, hội viên Hội VHNT Thái Bình với bài ký (có lẽ phải gọi là hồi ký mới đúng) “Thầy giáo Nguyễn Du” kể về chuyện ông cụ thân sinh của tác giả ham Kiều, say Kiều như thế nào. Và chính nhờ sự say Kiều của cụ ông, mà cụ bà tự học được chữ quốc ngữ qua bản Kiều bằng chữ quốc ngữ của cụ ông. Từ đó mà nói rằng: Nguyễn Du không những là Đại thi hào, mà còn gián tiếp là thầy giáo dạy chữ quốc ngữ cho bà cụ và những người phụ nữ ngày trước không được đi học như cụ, nhờ Truyện Kiều của Nguyễn Du mà biết chữ. Đó cũng là một thực tế và minh chứng cho tính quảng đại của Truyện Kiều trong đời sống.

Tiếp đến là bài sưu tầm của Lê Ngọc Kim, giới thiệu bài “Độc Tiểu Thanh ký – Một bài thơ tuyệt tác” của tác giả Trần Lê Văn, với lời bàn sắc sảo của ông với nguyên tác bài thơ và bản dịch của Vũ Tam Lập.

Qua nội dung những bài đã điểm trên, trong tập còn có những bài viết như: “Nguyễn Du – Người con rể đặc biệt của quê lúa Thái Bình” của Quách Hiệp Lan, “Trình độ lập kế hoạch của một số nhân vật Truyện Kiều” của Trường Lưu, “Bàn thêm về một số nhân vật trong Truyện Kiều” của Nguyễn Bá Mỳ, các bài “Nguyễn Du, Truyện Kiều và số phận con người”, “Suy nghĩ về tám câu đầu Truyện Kiều của Nguyến Du”, “Lời thưa lại với tác giả bài “Tai bay họa bốc” trong Truyện Kiều” của Nguyễn Xuân Nhuận, “Thúy Kiều với mối tình đầu” của Lê Đức Trường, “Bàn thêm về hai câu thơ của cụ Nguyễn Du” của Nguyễn Nhật Thuấn, “Đôi điều suy ngẫm về nghệ thuật miêu tả trong Truyện Kiều” của Nguyễn Ngọc Tư…. Ngoài những bài viết, trong tập còn có một số bài sưu tầm của Tống Mỹ Phong, Xuân Quyền, Đỗ Khắc Triển, Lê Thước.

Trong phần sưu tầm (trong cuốn sách được xếp vào phần thơ) có bài “Khấp Tố Như” là một bài Văn tế nhân ngày giỗ thứ 196 Đại thi hào Nguyễn Du (ngày 12/9/2016) của cụ Hoài Yên, nhà Kiều học Hà Nội, do ông Lê Ngọc Kim sưu tầm, giới thiệu. Nay tôi xin chuyển về phần Văn xuôi cho đúng. Đây là bài văn tế theo thể văn Biền ngẫu cổ phong khá chuẩn mực với từng cặp câu đối từ, đối ý, đối lời “chan chát” từ đầu đến cuối. Ngay từ cặp đầu:

Từ Nguyễn Thiến ở miền Canh Hoạch/ danh đề khoa bảng đầu tiên;

Đến Tố Như về chốn Tiên Điền/ nghiệp nối thi thư đệ nhất.

Đây là thể văn cổ điển mang tính bác học, hiện nay còn rất ít người hiểu luật, viết được và viết hay ở thể văn này. Xin cảm ơn cụ Hoài Yên đã viết và ông Lê Ngọc Kim đã giới thiệu.

Có thể nói, phần văn xuôi với những bài tiểu luận, bài giới thiệu, bài bình, có cả ký, truyện ngắn rất phong phú về thể loại, đa dạng về thể tài, nội dung đề cập, những góc nhìn đa chiều, với những ngòi bút, những văn phong phong phú, nhiều cung bậc thể hiện, vừa hiện thực, vừa lãng mạn trữ tình… Nhiều bài viết sâu sắc, công phu, có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, lập luận chắc chắn, có tính thuyết phục cao. Một số bài mang tính phát hiện, có phong cách và lối đi, hướng đi và bản sắc riêng. Tất nhiên bên cạnh đó cũng còn những bài viết còn khá dễ dãi, trùng lặp, vấn đề được đề cập chưa mang tính tiêu biểu, điển hình. Bên cạnh những bài sáng tác còn có những bài sưu tầm, giới thiệu những bài viết của những tác giả khác, nhằm cung cấp thêm những tư tiệu tham khảo quý cho người đọc, làm phong phú thêm cho tập sách.

Tựu chung lại, ở phần văn xuôi, các tác giả đã làm nên một diện mạo mới, với những góc nhìn đa chiều, những mảng màu sắc phong phú, đa dạng trong bức tranh tổng thể của cả tập sách.

*Với phần thơ, gồm 84 bài của 36 tác giả, chủ yếu là xoay quanh đề tài viết về Nguyễn Du, ca ngợi sự đóng góp của Đại thi hào với nền văn học dân tộc, thân thế, sự nghiệp của ông, và tấm lòng, sự tôn kính của người Thái Bình với ông. Đồng thời ca ngợi cái hay, cái đẹp, văn chương trác việt của Truyện Kiều, Truyện Kiều với đời sống con người Việt Nam nói chung và Thái Bình nói riêng. Với số lượng lớn như vậy, nên tôi không thể điểm hết được mà chỉ đi vào một số bài.

Trước hết, cho tôi đươc cùng toàn thể quý vị thắp nén tâm nhang với hai nhà Kiều học lão thành của Hội ta, một trong những người đã sáng lập ra Chi hội KHVN tại TB đã qua đời là bác Nguyễn Nhật Thăng và bác Trần Đức Thái, bằng cách điểm lại bài thơ của các bác.

Với bác Nguyễn Nhật Thăng có bài “Xuân về nhớ Bác làm thơ lẩy Kiều” viết về thơ chúc tết của Bác Hồ, có những câu cảm động: “Chắc Người yêu lắm Nguyễn Du/ Bác thường chúc tết, làm thơ lẩy Kiều/ Thiên tài vĩ đại bao nhiêu/ Càng sâu hồn Việt càng nhiều tiên tri”.

Bác Trần Đức Thái với bài “ Hồn thơ” có những câu rất sâu sắc và cảm động: “Phải chăng lúc mạch thơ khơi/ Tim ông đã cất lên lời nước non/ Lệ Kiều, dũa mãi không mòn/ Giờ tôi xâu lại vòng tròn hư vô/ Vòng sầu đặt giữa hồn thơ/ Hóa tro, dâng trước nấm mồ thi nhân”.

Bác Nguyễn Bá Chúng, năm nay đã 90 tuổi, bác cũng là một trong những thành viên sáng lập Chi hội ta, đóng góp trong tập 3 bài thơ, trong đó có bài: “Nguyễn Du trong trái tim nhân loại” có những câu thơ rất hình tượng: “Nắng thủy tinh mong manh chiều tím/ Khói hương trầm ấm lạnh gió xanh/ Về quê mẹ Hải An Quỳnh Phụ/ Phong nguyệt sào còn vương bóng thi nhân”.

Cây bút thơ lão thành Lương Hữu lại gắn hình ảnh quê hương Thái Bình xưa và nay với bóng dáng danh thi Nguyễn Du trong 10 năm gió bụi, và quê hương Thái Bình đổi mới hôm nay trong bài thơ “Qua cầu bến Hiệp”: “Con cháu Tố Như trên cây cầu mới/ Soi lòng sông và soi mát lòng nhau”.

Tác giả, dịch giả Vũ Quốc Huệ, ngoài văn xuôi, ông cũng góp bài thơ “Tổng thống Hoa Kỳ lẩy Kiều” có tính khái quát nhưng sâu sắc về những câu lẩy Kiều của mấy đời TT Hoa Kỳ gắn với những biến cố lớn trong quan hệ hai nước: “Xưa từng bấm nút ném bom/ Nay vui lọc áng thơ Nôm lẩy Kiều”.

Tác giả Lê Ngọc Kim trong bài thơ “Dạ Thúc Sinh” có những câu “Níu cảnh đan lời mơ cỗ nhạt/ Ru tình vẽ bóng mộng gừng cay/ Cành mai chẳng hẹn thôi đành lỡ/ Sợi chỉ Kỳ Tâm lỗi bấy chầy”.

Tác giả Thanh Bình với bài: “Mười năm gió bụi”: “Câu chèo xanh lúa Thái Bình/ Ngàn năm sâu nặng nghĩa tình Nguyễn Du”. Nhà thơ Trần Chính trong bài “Thanh minh nhớ lại” : “Cỏ nan úa thẫm vàng chiều/ Thì đâu Kim Trọng, Thúy Kiều gặp nhau”. Tác giả Lê Thế Đương góp mặt 5 bài thơ, có 4 bài theo thể khoán thủ, trong đó có bài “Du xuân” với lời thơ mượt mà: “Dưới xuân tỏa ngát sắc, hương đào/ Dòng suối quanh co, tiếng dạt dào/ Nước biếc in cây, ngàn bóng hửng/ Chảy qua khoe dáng, vạn bông cao”. Tác giả Phạm Xuân Đào trong bài thơ “Cỏ áy” có những câu tưởng nhớ Nguyễn Du: “Vùng cỏ áy ở gần hay xa/ Bóng vàng phơi sáng dòng sông Luộc/ Sóng mãi vỗ bờ, mãi dài hun hút/ Còn nguyên đây bước “Thập tải phong trần”. Cây bút thơ Nguyễn Tường Thuật của Hội VHNT Thái Bình thì tập hợp lại tất cả hai lần Nguyễn Du dùng từ “ngàn năm” và mười lần dùng từ “trăm năm” trong Truyện Kiều trong bài thơ “Muôn lần nghìn năm”. Tác giả Phạm Đức Khải chia sẻ cảm xúc của mình với Nguyễn Du và Truyện Kiều trong bài “Kính mừng cụ Nguyễn Du” : “Phong trần mấy độ nắng mưa/ Nỗi riêng tâm sự bến bờ bể dâu/ Những câu thơ tựa ngọc châu/ Sáng ngời nghĩa khí đượm màu nhân văn”. Tác giả Khánh Văn trong bài thơ “Tâm sự chàng Thúc Sinh” có những câu khá mới mẻ: “Bọn Sở Khanh, Ưng, Khuyển, Mã trốn đâu rồi/ Chỉ còn mình anh đêm xuân đọc lại/ Em vẫn là Kiều của Lâm Tri mãi Mãi/ Như chưa từng vui bước Lãm Thúy hiên”. Nữ tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thúy trong bài thơ thể khoán thủ “Trăm nhớ ngàn thương” khá lãng mạn, chứa chan tâm sự yêu đương: “Đã yêu quên cả lối về/ Nguyền sông hẹn núi câu thề vẫn đây” và “Thuyền xưa bến cũ còn in bóng/ Ai hỡi đêm trường biết có hay”.v.v…

Còn rất nhiều những bài thơ đậm đà, sâu lắng, ẩn chứa những tâm sự hoài niệm của người Thái Bình hiện tại với thân phận Thúy Kiều và các nhân vật trong Truyện Kiều, thân phận của chính Nguyễn Du “đấng sinh thành vĩ đại” đã sinh ra một “đứa con tinh thần vĩ đại” trong những bài thơ của các tác giả trong tập sách này, như những bông hoa ngạt ngào hương sắc trong vườn xuân “Thái Bình với Nguyễn Du và Truyện Kiều”.

Để kết thúc bài điểm sách này, tôi xin trích dẫn đoạn văn sau đây của Nhà văn hóa lớn trong thế kỷ 20, nhà từ điển, học giả Đào Duy Anh trong bài “Khảo luận về Kim Vân Kiều do Quan hải tùng thư Huế, xuất bản năm 1943: “Đoạn văn của H. Taine nói về ngụ ngôn của La Fontaine thích hợp với văn chương Đoạn trường tân thanh quá nên tôi không thể cưỡng lại nổi cái thú vị dẫn ra để chỉ thị thiên tài của Nguyễn Du. Nhờ thiên tài ấy mà văn Đoạn trường tân thanh, vô luận là miêu tả, tự thuật hay đối thoại, đều rất thích đáng, rõ ràng, đầy đủ, mà lại rất vắn tắt, gọn gàng” (hết lời dẫn).

Nhiệm vụ của mỗi chúng ta là làm sáng tỏ thêm giá trị của Truyện Kiều, tôn vinh Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, đưa văn chương Truyện Kiều thâm nhập ngày càng sâu, càng rộng hơn trong đời sống của quảng đại quần chúng.

Viết xong ngày 11/4/2017.

(Đào Xuân Ánh – H/v Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam- H/v Hội VHNT Thái Bình-

UV BCH VPĐD Hội Kiều học Việt Nam tại Thái Bình)

Điển cố văn học trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (phần 2)

(Tiếp theo)

alt

4.Đặc điểm điển cố trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Xét về mặt ngữ âm, điển cố trong Truyện Kiềubao gồm điển cố âm thuần Việt và điển cố âm Hán - Việt. Chúng tôi đã thống kê được kết quả theo bảng sau:

Bảng thống kê điển cố theo âm đọc

STT

Âm đọc

Số lượng

(điển cố)

Tỉ lệ

(%)

Ghi chú

1

Thuần Việt

157

51,5


2

Hán Việt

148

48,5


Nhìn vào kết quả thống kê, có thể thấy rằng tỉ lệ điển cố âm Hán Việt và âm thuần Việt là tương đương nhau, điển cố âm thuần Việt có 157 điển cố chiếm tỉ lệ51,5% và điển cố âm Hán Việt có 148 điển cố, chiếm tỉ lệ là 48,5%. Điều này khẳng định nỗ lực rất lớn của Nguyễn Du trong việc “Việt hóa” điển cố Trung Quốc. Mặc dù các điển cố chủ yếu có nguồn gốc từ kinh, sử, truyện, thơ Trung Quốc, nhưng bằng nhiều cách khác nhau, Nguyễn Du đã Việt hóalàm cho điển cố hòa nhập với câu thơ chữ Nôm, mang đậm màu sắc của dân tộc Việt hơn. Do vậy làm cho người đọc dễ hiểu, dễ cảm hơn.

Với một khối lượng phong phú những điển cố là từthuần Việt, Hán Việt và từ Hán Việt được Việt hóa, có thể khẳng định vốn am hiểu sâu rộng, uyên bác của thi hào Nguyễn Du về ngôn ngữ. Ngôn ngữ dân tộc hay ngôn ngữ vay mượn đều được Nguyễn Du sử dụng một cách tài tình, điêu luyện.

Xét về mặt cú pháp

Xét ở phương diện cú pháp,chúng tôi nhận thấy các điển cố có khi được cấu tạo là một từ, một cụm từ, hay có khi lại là một kết cấu chủ-vị. Kết quả thống kê như sau:

Bảng 2.3. Bảng thống kê điển cố theo cú pháp

STT

Cú pháp của điển cố

Số lượng (điển cố)

Tỉ lệ (%)

Ghi chú

1

Từ

198

64,9


2

Cụm từ

81

26,6


3

Câu

26

8,5


Như vậy, xét về mặt cú pháp, phần lớn các điển cố tương đương với cấp độ từ(64,960,7%)và cụm từ (26,6%).Số lượng các điển cố tương đương với cấp độ câu chiếm tỉ lệ rất ít (8,5%). Đây cũng là một biểu hiện của tính cô đọng, hàm súc của ngôn ngữ Truyện Kiều, khi nội dung ý nghĩa của điển cố được “dồn nén” trong một dung lượng câu chữ ít nhất.

4. Nét đặc sắc của việc vận dụng điển cố trong Truyện Kiều

Như trên đã trình bày, việc sử dụng điển cố là một phép văn rất phổ thông trong văn học trung đại. Ngoài Truyện Kiều, các tác phẩm khác như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc...cũng sử dụng nhiều điển cố. Nhưng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, điển cố được vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, sàng lọc và gọt dũa một cách công phu và mang lại hiệu quả cao. Nó là một minh chứng cho khả năng sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ vô cùng sắc sảo và tài hoa của thi hào Nguyễn Du. Có thể nói, việc vận dụng điển cố trong Truyện Kiềuđã mang lại nét độc đáo, đặc sắc của ngôn ngữ Truyện Kiều,là một trong những yếu tố quan trọng mang lại thành công rực rỡ cho tác phẩm nói chung và thành công trong sử dụng ngôn ngữ nói riêng.

Văn chương trung đại quan niệm văn chương phải hướng về cái cao quý, sang trọng, mỹ lệ.Tính uyên bác, trang nhã được xem như một công thức quy phạm đặc trưng của văn học trung đại.“Dựa vào lời xưa tích cũ, việc dùng điển tạo thêm lí lẽ trong văn mạch lại làm cho văn chương trở nên sang trọng, quý phái”[26, 6]. Đặc trưng này tạo ra cách diễn đạt có khoảng cách với cái bình dị, mộc mạc.

Truyện Kiều là một kiệt tác của văn học trung đại. Lẽ tất yếu, nó cũng mang những đặc trưng chung của văn chương trung đại, đó là ngôn ngữ Truyện Kiều có tính uyên bác, trang nhã.Đặc điểm này đặc biệt được thể hiện rõ trong việc vận dụng điển cố.

Tính uyên bác, trang nhã của ngôn ngữ Truyện Kiều được biểu qua một số khía cạnh sau:

Trong Truyện Kiều, một lượng lớn điển cố được sử dụng là các từ Hán Việt. Một trong những hiệu quả nổi bật của việc dùng từ ngữ Hán Việt là làm tăng sắc thái trang trọng, tao nhã, tạo một không khí cổ kính. Nếu thay bằng những từ ngữ thông thường, ta sẽ không còn thấy cái nét trang trọng, tao nhã ấy nữa.

Gắn với tính chất tao nhã, uyên bác, Truyện Kiều có một hệ thống các điển cố với những hình ảnh rất đẹp, rất thanh nhã: cầu Lam, Chương Đài, chim xanh, Thiên Thai, Trang Chu mộng bướm, Đỗ Quyên khóc máu, hồn mai, giấc hòe, kim mã ngọc đường,...

Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên thai (392)

Điển cố "Thiên thai" nằm ở cuối câu thơ chỉ về địa điểm thư phòng của Kim Trọng và được miêu tả ước lệ như là động tiên, rất đẹp và sang trọng.

Chính hệ thống điển cố đó đã góp phần tạo nên vẻ đẹp ngôn ngữ Truyện Kiều, đem đến cảm nhận tác phẩm như một đồ vật quý được khảm vàng bạc, châu ngọc rất quý giá!

Trong văn chương nói chung, có nhiều trường hợp, nhà văn, nhà thơ “gặp” phải những chuyện rất “khó nói”, những chuyện mà chính thi hào Nguyễn Du trải lòng “hở môi ra cũng thẹn thùng”. “Những việc khó nói nếu dùng lời văn thông thường thì sỗ sàng hay thô tục. Trường hợp này, nếu khéo dùng điển thì ý tứ vẫn rõ ràng mà lời văn thanh nhã trang trọng”[26; 21].Hãy ngẫm nghĩ câu chuyện dưới đây:

Thưa rằng: “Đừng lấy làm chơi,

“Dẽ cho thưa hết một lời đã nao.

“Vẻ chi một đóa yêu đào,

“Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.

“Đã cho vào bậc bố kinh,

“Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu.

“Ra tuồng trên Bộc trong dâu,

“Thì con người ấy ai cầu làm chi.

“Phải điều ăn xổi ở thì,

“Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày.

“Ngẫm duyên kì ngộ xưa nay,

“Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi-Trương.

“Mây mưa đánh đổi đá vàng,

“Quá chiều nên đã chán chường yến oanh.

“Trong khi chắp cánh liền cành,

“Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.

“Mái tây để lạnh hương nguyền,

“Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.

Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,

“Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?

“Vội chi liễu ép hoa nài,

“Còn thân còn một đền bồi có khi”.

(Đoạn trường tân thanh, câu 502- câu 522)

Toàn bộ lời thơ trên là lời của Thúy Kiều nói với Kim Trọng. Nghe Kiều đánh đàn lần thứ nhất, chàng Kim có vẻ “Sóng tình dường đã xiêu xiêu- Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”. Trong hoàn cảnh này,Thúy Kiều đã phải lựa lời đểkhuyên răn chàng Kim. Đây là một việc không dễ dàng. Làm thế nào để ngăn lại ngọn sóng tình đang dạt dào dâng lên trong lòng Kim Trọng mà để người nói không sỗ sàng mà người nghe cũngkhông thấy xấu hổ, không mất lòng? Ở đây, Thúy Kiều, hay cũng chính là Nguyễn Du đã lựa chọn cách sử dụng điển cố.Chúng tôi chú ý tới các điển cố đã được in đậm.

- Điển cốtrên Bộc trong dâu”được vận dụng là một thành ngữ của Trung Quốc, chỉ thói tà dâm của trai gái. Trong sách Lễ Ký có ghi: “Tang gian Bộc thượng chi âm, vong quốc chi âm dã”, nghĩa là: “tiếng trong ruộng dâu trên bãi sông Bộc là tiếng nhạc mất nước”. Bộc là tên một con sông ở Trung Quốc ngăn đôi hai nước Trịnh- Vệ thời xưa. Hai bên sông bộc có rất nhiều phù sa, bồi đắp rất là màu mỡ, dân chúng hai nước Trịnh-Vệ bèn hom dâu ra bờ sông để trồng. Dâu lên xanh tốt, tán lá xum xuê, che kín cả một vùng rộng lớn. Người đứng dưới ruộng bên bờ sông Bộc thì khó mà có người nhìn thấy được bóng dáng.Trên Bộc tức là trên dòng sông Bộc; trong dâu tức là trong ruộng dâu. Điển cố trên ý nói trên sông Bộc và trong ruộng dâu kín đáo ở hai bên sông Bộc. Lợi dụng chỗ thuận tiện ấy, trai gái hai nước Trịnh, Vệ ở hai bên bờ sông Bộc thường hẹn hò, gặp gỡ nhau trong những bãi dâu che kín để tự tình và làm điều dâm ô. Kinh Thi có câu: “Kỳ ngã vu tang trung”. Nghĩa là: “Hẹn với người ta ở trong bãi dâu”. Vì thế còn tạo cho điển cố “Trên Bộc trong dâu” ngoài cách hiểu như trên còn được dẫn dụng để chỉ những người dâm loàn, không giữ tiết trinh, mải mê theo cái dục của thể xác, thích điều trăng gió. Thúy Kiều đã nói xa, nhắc khéo chàng Kim như thế!

- Điển cố Thôi-Trương ở đây là nàng Thôi Oanh Oanh và chàng Trương Quân Thụy trong vở Tây Sương ký. Nàng Thôi vì qua yêu chàng Trương mà yêu chiều chàng mọi chuyện nhưng sau lại bị chàng Trương chán chường,ruồng rẫy.

- Điển cố "Chắp cánh, liền cành" nguyên Hán văn là"Tỷ dực điểu" và "Liêm lý chi" (chim chắp cánh cùng bay; cây kết liền cành cùng sống). Sách "Nhĩ nhã" chép": chim Kiêm giống chim le le, lông màu xanh, chỉ có một cánh và một mắt, ở phương Nam. Mỗi khi muốn bay thì hai con cùng chắp cánh nhau mới bay được. Chim này gọi là "Tỷ dực điểu". Cây liền cành là cành của hai cây giao nhau. Nguyên đời Xuân Thu, vua nước Tống tên Yển vốn hiếu sắc, dâm bạo.Một hôm du ngoạn đến gò Phong Phụ, thấy một thiếu phụ rất đẹp đương hái dâu. Vua càng động lòng tà dục, dò hỏi biết nàng người họ Tức, vợ của nho sĩ Hàn Phùng. Tà ý của vua gặp phải sự cự tuyệt quyết liệt của nàng Tức. Nhưng Vua quyết tâm chiếm nàng bằng được. Đau đớn, uất ức, chồng nàng cắn lưỡi tự tử. Cuối cùng, chẳng đành, nàng Tức cũng từ trên lầu cao đâm đầu xuống mà chết. Khám trong mình nàng có một bức thư yêu cầu sau khi nàng chết, xin cho chôn chung một mộ với chồng, dưới suối vàng sẽ đội ơn sâu. Vua Tống cả giận, cho người chôn riêng làm hai mộ cách xa nhau. Ðược ba hôm, bỗng một đêm có hai cây văn tử mọc ở cạnh hai ngôi mộ. Chỉ trong một tuần, cây ấy dài hơn ba thước, những cành quấn quít lấy nhau như một. Thỉnh thoảng có một đôi chim uyên ương đậu ở trên cành, giao đầu kêu nhau một giọng bi ai. Người trong địa phương thương cảm, cho đó là oan hồn của vợ chồng Hàn Phùng hoá sinh, và gọi cây ấy là cây Tương tư. Như vậy, điển "chắp cánh liền cành" chỉ tình vợ chồng gắn bó chung thuỷ, không bao giờ rời xa nhau. Ý của Kiều cho rằng: khi chưa thành vợ chồng mà đã chiều theo ý muốn của Kim Trọng như thế, đến khi thành chồng vợ yêu nhau thì ở bên cạnh đã sẵn lòng rẻ rúng, khinh thường nhau, mất tình đằm thắm mặn nồng.

- Điển “mây mưa” được dịch từ “vân vũ”. Theo lời tựa bài phú Cao Đường của Tống Ngọc, vua nước Sở lên thăm đền Cao Đường, mệt quá ngủ thiếp đi, mộng thấy một phụ nữ xinh đẹp đến tâu rằng: “Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn được biết nhà vua ngự chơi nơi này nên đến xin được hầu hạ chăn gối”…Khi ra về, thần nữ lại tâu: “Thiếp ở tại phía nam núi Vu Sơn, sớm làm mây, chiều làm mưa, sớm hôm chiều chiều ở ở dưới Dương Đài”. Cho nên, điển mây mưa ngụ ý nói về việc ân ái, việc ăn nằm với nhau của trai gái.

- Điển“gieo thoi”: “Gieo thoi trước chẳng giữ giàng”. Điển cố này được lấy ý từ chính lá thư mà nàng Thôi Oanh Oanh gửi cho chàng Trương Quân Thụy: “Ngày trước khi chàng cầu thân, thiếp đã chẳng biết gieo thoi cự lại, để đến nỗi sau này bị chàng phụ bạc, đến nỗi phải hổ thẹn cùng chàng, ấy là lỗi tự thiếp, còn dám trách ai” [23,27]. Sâu xa, điển này bắt nguồn từ câu chuyện chàng trai Tạ Côn với cô gái dệt cửi. “Gieo thoi” là cầm cái thoi dệt cửi ném. Chuyện xưa kể rằng, có người con trai là Tạ Côn tỏ vẻ bỡn cợt, trêu ghẹo một cô gái láng giềng. Cô đương ngồi dệt cửi nổi giận, cầm cái thoi ném vào mặt Tạ Côn làm gãy hai cái răng cửa. Chung quy lại, điển “gieo thoi” là muốn nói tới cái ý cự tuyệt quyết liệt trước sự sàm sỡ, trước tà dục.

Thúy Kiều thực hết sức khéo léo! Ngôn ngữ của Nguyễn Du thật kì diệu! Chỉ bằng cách dẫn điển cố, Thúy Kiều đã nêu cái đạo phải theo, đã nói cái lẽ chung cho mọi người. Kể hàng loạt những việc yêu đương, ái ân của trai gái mà không dùng tới một lời thô lỗ, khiếm nhã nào. Lời văn vẫn thực trong sáng, thanh nhã. Cái ý tứ của nàng rất rõ ràng. Nàng cũng không cần phải nói: “thiếp sẽ hết sức cự tuyệt...” nhưng thực là nàng đã cự tuyệt một cách quyết liệt mà khôn khéo. Ta nên hiểu, sự cự tuyệt của Kiều chỉ là ngăn ngọn “sóng tình” đang dâng lên ở Kim Trọng, là để chàng biết “dừng” cho đúng với đạo lý chứ không phải là cự tuyệt tình yêu của Kim Trọng. Trái lại, nàng cũng thẳng thắn bày tỏ tấm chân tình của mình

-Vẻ chi một đóa yêu đào,

Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.

-Vội chi liễu ép hoa nài,

Còn thân còn một đền bồi có khi.

Đó là những lời an ủi, vuốt ve Kim Trọng, lời hứa hẹn chan chứa tình âu yếm, dịu dàng. Thế nên, cái người bị cự tuyệt là chính chàng Kim đây, không hề thấy bị mất lòng, bị phật ý, trái lại, càng thêm yêu, thêm nể trọng trước sự tinh tế, trước tư cách đoan trang của Thúy Kiều:

Thấy lời đoan chính dễ nghe,

Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân.

Để thấy rõ hơn tính trang trọng, thanh nhã trong ngôn ngữ Truyện Kiều mà việc sử dụng điển cố đã đem lại, ta hãy xét thêm một câu chuyện nữa:

“Biết bao bướm lả ong lơi (1229)

Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm

Dập dìu lá gió càng chim (1231)

Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh

Lầu xanh vốn được biết đến là chốn ô hợp, dâm đãng, xấu xa. Bởi ở đó, là những câu chuyện vềsự ăn chơi hưởng lạc, chuyện tiếp khách làng chơi, chuyện ái ân nam nữ,...Thúy Kiều, sau rất nhiều lần phản kháng, không còn cách nào khác, đành phải chấp nhận cuộc sống chốn thanh lâu, chấp nhận tiếp khách làng chơi. Để tái hiện điều này, nếu bằng ngôn ngữ thông thường, ắt hẳn phải sử dụng thứ ngôn ngữ tục tĩu, thô lỗ, thậm chí gây phản cảm với bạn đọc.Nhưng Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng các điển cố lá gió càng chim, Tống Ngọc, Trường Khanhvừa miêu tả được cuộc sống chốn thanh lâu mà vẫn giữ được vẻ trang trọng, thanh nhã trong lời văn.Điển cố "lá gió cành chim" lấy từ chuyện nàng Tiết Đào (đời Đường) lúc nhỏ làm thơ: Chim nghinh nam bắc điểu- Diệp tống vãng lai phong, nghĩa là: cành đón chim nam bắc; lá đưa gió lại qua. Cha nàng xem, biết phận con không ra gì, bởi hàm ý của nó chỉ việc tiếp khách làng chơi.

Còn Tống Ngọc, Trường Khanh đều là những nhân vật trong lịch sử Trung Quốc. Tống Ngọc là người nước Sở đời Xuân Thu. Trường Khanh tức Tư Mã Tương Như. Cả hai đều là người có tài, đẹp trai, lãng mạn, đa tình. Mượn hai nhân vật này, Nguyễn Du chủ yếu muốn miêu tả sự tiếp khách của Thúy Kiều đối với đối tượng nào. Đó đều là những khách làng chơi sang trọng, phong lưu tài tử(giống nhưTống Ngọc, Trường Khanh) chứ không phải hạng khách tầm thường, phàm phu tục tử.

Với hai điển cố này ý thơ trở nên kín đáo, tao nhã, mà hiệu quả diễn đạt của câu thơ rất mạnh mẽ.

(Còn tiếp)

Điển cố văn học trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (phần 1)

alt

Thạc sĩ Vũ Thị Huân

1.Truyện Kiều (chữ Nôm: 傳翹), tên gốc là Đoạn trường tân thanh (chữ Hán: 斷腸新聲), là truyện thơ kinh điển trong nền Văn học Việt Nam, được viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát của Nguyễn Du, gồm 3254 câu, dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện(金雲翹傳) của Thanh Tâm Tài Nhân (青心才人), một tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi của Trung Quốc.

Truyện Kiều kể lại số phận chìm nổi, bất hạnh của Thúy Kiều trải qua mười lăm năm lưu lạc, trải qua nhiều kiếp nạn đoạn trường. Có thể nói, trong thế giới nhân vật phụ nữ của Văn học Việt Nam, chưa có nhân vật phụ nữ nào lại bất hạnh hơn Thúy Kiều. Tác giả Lê Đình Kỵ đã nhận xét: “ Truyện Kiều - Đoạn trường tân thanh” - là tiếng kêu xé ruột của con người bị đày đọa, là bằng chứng về nỗi đau của con người bị giày xéo trong tình yêu, trong tình cảm gia đình, trong niềm khát vọng bình thường nhất, trong nhân phẩm tối thiểu của một con người”.

Về mặt nội dung, một trong những giá trị lớn nhất của Truyện Kiều là tinh thần nhân đạo cao đẹp. 3254 câu thơ Kiều dào dạt một tình thương mênh mông của Nguyễn Du trước những bi kịch cuộc đời, mà theo như lời của thi hào “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Tinh thần nhân đạo được thể hiện trước hết là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của con người như tài sắc, lòng hiếu nghĩa, vị tha, chung thuỷ trong tình yêu. Đó còn là tấm lòng của nhà thơ đồng tình với những ước mơ và khát vọng về tình yêu lứa đôi, về tự do và công lý; là sự đồng cảm, xót thương với bao nỗi đau, bị vùi dập của con người, nhất là đối với người phụ nữ “bạc mệnh” trong xã hội phong kiến. Có thể nói, cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du là cảm hứng trân trọng và thương yêu con người bị áp bức, bị chà đạp. Tác phẩm có ý nghĩa như là tiếng kêu cứu lấy số phận con người và khẳng định phẩm giá con người.

Về mặt nghệ thuật, Truyện Kiều là một công trình nghệ thuật tuyệt mỹ. Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Du đã thể hiện sự tài hoa, sắc sảo trong miêu tả, tự sự... Hay nói đúng hơn, đó chính là tài năng bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ. Tả người, tả cảnh hay tả tình... đều rất mực tài hoa. Xin dẫn lời của tác giả Mộng Liên Đường chủ nhân trong bài Tựa Truyện Kiều, một lời nhận xét tuy ngắn gọn mà đã khái quát được tài hoa của Nguyễn Du: “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột,... Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh như hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy”.

So với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, nội dung của Truyện Kiều không có nhiều khác biệt. Nhưng về mặt nghệ thuật, Truyện Kiều đã vượt xa Kim Vân Kiều truyện, được đánh giá là một thiên tuyệt bút, khẳng định ngòi bút điêu luyện, tài tình của Nguyễn Du.Trải qua hàng trăm năm, với biết bao thăng trầm của cuộc sống, Truyện Kiều vẫn nóng bỏng hơi thở của nó, vẫn trường tồn sức sống trong lòng mọi thế hệ độc giả. Đúng như tác giả Lê Trí Viễn đã viết: “Câu chuyện trầm luân của Thúy Kiều xưa nay biết bao người nói đến, lời thơ của Nguyễn Du đã đi qua hàng thế kỷ, thế mà bao khúc nôi đoạn trường cùng những lời đứt ruột kia vẫn như còn mới tinh, sức sống của văn chương, sức sống của sự việc không hề giảm đi mà còn có vẻ tăng thêm”.

Có thể nói, Truyện Kiều là tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Du mà cũng là tác phẩm lớn nhất trong văn học cổ điển Việt Nam, một kiệt tác của nhân loại. Nó không chỉ là kết quả lao động sáng tạo của một thiên tài “vô tiền khoáng hậu” mà còn là thành quả của một thời kì lịch sử, thành quả của cả một nền văn hóa có bề dày hàng nghìn năm. Truyện Kiềucủa Nguyễn Du đã góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi bờ cõi của một quốc gia, trở thành một phần của tinh hoa của văn hóa nhân loại, ghi dấu ấn văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. Với Truyện Kiều nói riêng và toàn bộ trước tác của Nguyễn Du nói chung, ông được các thế hệ người Việt Nam tôn vinh là Đại thi hào dân tộc, Hội đồng Hòa bình thế giới, UNESCO vinh danh ông là Danh nhân văn hóa thế giới.

Với sự cống hiến của Nguyễn Du, với những thành tựu đã được ghi nhận, Nguyễn Du và Truyện Kiều đã trở thành niềm tự hào và sẽ sống mãi trong lòng bao thế hệ người Việt!

Người ta đã biết đến Truyện Kiều của Nguyễn Du như biết về những gì bình dị nhất gần gũi nhất trong cuộc sống, lại vừa như một tài sản quý giá, một “di sản văn hóa” của dân tộc. Bên cạnh giá trị to lớn về nội dung nhân đạo, nội dung hiện thực còn là giá trị đặc sắc về ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm. Một trong những nét thành công của Nguyễn Du trong Truyện Kiều đó là cách sử dụng tài hoa ngôn ngữ văn học. Với ngôn ngữ Truyện Kiều, Nguyễn Du được xem là “bậc thầy ngôn ngữ dân tộc”,là người đã nâng ngôn ngữ văn học của dân tộc, của thời đại lên một đỉnh cao chói lọi. Qua bàn tay của thi hào Nguyễn Du, ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta trở nên điêuluyện hơn, tinh tế và đặc sắc hơn, trở thành một thứ “siêu ngôn ngữ”.Ngay từ thế kỷ XIX, cụ Đào Nguyên Phổ đã cho rằng: Truyện Kiều “thật là một khúc Nam âm tuyệt xướng”.

Chính vì thế, khi tìm hiểu kiệt tác này chúng ta không thể không tìm hiểu yếu tố ngôn ngữ đã dệt nên bức gấm hoa văn chương Truyện Kiều. Hiểu được ngôn ngữ Truyện Kiều sẽ đem đến cho chúng ta một cách thưởng thức mới, thú vị, sâu sắc và hấp dẫn hơn. Và cũng có thể coi việc hiểu ngôn ngữ Truyện Kiều giống như một chiếc chìa khóa để “giải mã” thế giới nghệ thuật cùng với những giá trị tuyệt vời của tác phẩm. Về ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều chúng ta có thể tìm hiểu trên nhiều phương diện, như nhà thơ đã sử dụng lớp từ Hán Việt, lớp từ thuần Việt như thế nào? Các phương thức tu từ nghệ thuật? Các từ láy, từ loại, vần, nhịp của câu thơ trong Truyện Kiều như thế nào,…Song, một trong những đặc sắc làm nên giá trị ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm Truyện Kiều,chính là việc nhà thơ đã vận dụng điển cố để tạo cho ngôn ngữ của tác phẩm tăng thêm vẻ đẹp và sự hàm súc, dư ba.

Vận dụng điển cốlà một phương thức quen thuộc của các tác giả văn chương trung đại. Việc vận dụng điển cố cho ta thấy tính chất uyên bác của tác giả khi thể hiện nội dung văn chương và ngôn ngữ của tác phẩm. Tuy nhiên, với thế hệ bạn đọc ngày nay, ngôn ngữ của các tác phẩm văn chương trung đại, trong đó có việc sử dụng điển cốlại đã trở thành “hàng rào” ngăn cách nhận thức người đọc đến với nội dung của tác phẩm đó. Vì thế, tìm hiểu điển cố trong ngôn ngữ của tác phẩm văn chương trung đại nói chung và điển cố trong tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du nói riêng, trở thành một nhu cầu rất cần thiết khi đến với văn chương trung đại và đến với kiệt tác Truyện Kiều.

Điển cố là một khái niệm, cho đến ngày nay vẫn gây nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu ngôn ngữ. Vì chưa có một tên gọi thống nhất, cùng một khái niệm nhưng các nhà nghiên cứu lại dùng các thuật ngữ khác nhau gây khó khăn cho việc tiếp nhận và nghiên cứu. Qua tìm hiểu một số tài liệu nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có nhiều tên gọi khác nhau: điển, điển cố, điển tích, điển nghĩa.

Bên cạnh những tên gọi khác nhau cho điển cố thì cách hiểu, cách giải thích về khái niệm điển cố cũng có nhiều ý kiến, bàn cãi.

Theo tác giả Bửu Kế: “Ðiển là sách sử, cổ là cũ. Điển cố là chuyện cũ đã từng chép trong sách xưa”.

Còn theo tác giả Đào Duy Anh trong "Từ điển Hán - Việt định nghĩa: “Điển cố là những chuyện chép trong sách vở xưa”.

Tác giả Đinh Gia Khánh cho rằng: “Tích là những sự việc, câu chuyện xưa, câu chỉ sự việc của đời xưa, của văn học cổ” và theo ông “tích nằm trong cố gọi chung là điển cố”.

Theo định nghĩa của Viện Ngôn ngữ học trong "Từ điển tiếng Việt": “Điển cố là sự việc hay câu chữ trong sách đời trước được dẫn trong thơ văn” và điển tích là: "Câu chuyện trong sách đời trước, được dẫn lại một cách cô đúc trong tác phẩm".

Tác giả Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu lại có cách giải thích: “Điển (nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hay một câu có ám chỉ đến việc cũ, một tích xưa khiến cho người đọc sách phải nhớ đến chuyện ấy, sự tích ấy mới hiểu ý nghĩa và cái lý thú của câu văn”.

Tác giả Trần Đình Sử trong cuốn Những thế giới nghệ thuật thơ có viết rõ ràng hơn, sâu sắc hơn về điển cố: “Điển cố là các sự việc, câu chữ, của tác phẩm văn học thời trước mà người đọc nào cũng biết, được sử dụng lại trong tác phẩm mới nhằm tăng cường sức biểu hiện, mở rộng, đổi mới ý thơ”.

Từ việc tìm hiểu các cách hiểu về điển cố của một số tác giả thì Phạm Đan Quế trong cuốn Tìm hiểu điển tích Truyện Kiều đã nhận định: “Như vậy, điển, điển cố, điển tích có nghĩa tương đương nhau, nhưng điển tích nặng về câu chuyện, sự việc kể lại”.

Để việc nghiên cứu luận văn được thuận lợi và mang tính khoa học, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “điển cố” cho toàn luận văn của mình. Theo quan niệm của chúng tôi: điển cố là các sự việc, câu chữ, hình mẫu nhân vật của tác phẩm văn học, sử sách, kinh truyện thời trước được các tác giả sử dụng, vận dụng lại trong xây dựng tác phẩm nghệ thuật của mình.

2.Văn học xưa chia điển cố thành hai loại:

Nếu điển cố lấy các tích truyện xưa làm nội dung xuất phát thì nó được gọi là “dụng điển”. Dụng điển bao gồm các sự vật, sự việc căn bản, những nhân vật biểu trưng cho loại tính cách, phẩm chất, quyền năng hay hành vi. Những nhân vật này có thực trong lịch sử hoặc hư cấu trong tác phẩm văn học. Dụng điển có khi là những địa danh (vùng đất, sông hồ, núi non, biển cả,...) gắn với một tích truyện hay tượng trưng cho một khái niệm, một tư tưởng, tình cảm nào đó. Dụng điển có khi là những nhân vật kỳ vĩ, nổi tiếng, là tấm gương hiếu thảo, anh hùng liệt sĩ, tấm gương về đạo đức,… Ví dụ, trong Truyện Kiều có câu:

Từ rằng: Lời nói hữu tình,

Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. ( 2192)

Điển cố Bình Nguyên Quân gợi nhớ đến Triệu Thắng, hiệu Bình Nguyên Quân, con Vũ Linh vương nước Triệu đời Chiến quốc. Bình Nguyên Quân vốn là người hào hiệp, lại biết dùng người tài. Cho nên văn học cổ thường nhắc đến Bình Nguyên Quân khi ngụ ý nói về người biết trọng tài đức.

Nếu điển cố có nguồn gốc từ các trích dẫn, từ kinh sách, từ các câu nói của người xưa thì được gọi là “dẫn kinh”. Dẫn kinh có thể là một câu, một ngữ, một từ được trích dẫn nguyên vẹn, có khi chỉ dùng một vài từ trong cả câu được lựa chọn và sắp xếp lại thành điển cố mà vẫn thể hiện được tinh thần của câu văn trích.

Xét về mặt nghĩa, điển cố có những đặc trưng sau:

Điển cố luôn luôn gắn bó với một tích truyện nhất định, trong sách vở hay ngoài cuộc đời thực. Tuy nhiên, tính cụ thể của điển cố lại thường mang ý nghĩa ẩn dụ hay hoán dụ để truyền đạt một ý nghĩa khái quát mang tính chất phổ biến.

Điển cố được sử dụng nhằm thay thế cho một sự tích, một câu nói, một tứ thơ thì nó được gọt giũa thêm để trở nên hàm súc hơn, ý tại ngôn ngoại, tức là cố gắng chuyển tải được một nội dung lớn hơn nhiều với sức hàm chứa của bản thân từ ngữ.

Để hiểu rõ hơn về hai đặc điểm này, ta hãy xét điển cố Lam Kiều (hay Cầu Lam):

Về tính lịch sử cụ thể: Lam Kiều là tên một chiếc cầu thuộc huyện Lam Điền tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Đây là một chiếc cầu có thật, từng tồn tại trong một không gian và thời gian nhất định trong quá khứ. Đó là mặt hiện thực của từ ngữ Lam Kiều.

Về tính biểu trưng: theo sách truyền kỳ, Bùi Hàng đời Đường gặp người con gái đẹp tặng bài thơ có câu như sau:

“Nhất ẩm quỳnh tương bách cảm sinh,

Huyền sương đảo tận kiến Vân Anh,

Lam Kiều tận thị thần tiên quật,

Hà tất kỳ khu thướng ngọc kinh”

(Chén rượu quỳnh tương vừa uống xong sinh ra trăm mối cảm,

Thuốc huyền sương giã xong thì được gặp Vân Anh,

Lam Kiều chính là nơi động tiên đó,

Hà tất phải lặn lội đến kinh đô làm gì).

Sau Bùi Hàng có dịp đến Lam Kiều, khát nước, ghé vào quán lá cạnh đường, bà chủ quán gọi cô gái là Vân Anh rót nước mời, thấy Vân Anh đẹp, Hàng xin trọ lại và xin cầu hôn. Bà quán bảo: “Trước đây thần tiên cho ta thìa linh dược, cần có chày, cối bằng ngọc để giã. Bao giờ người mang các thứ đó lại đây ta sẽ gả Vân Anh cho”. Hàng quyết tâm tìm mua chày cối ngọc mang đến Lam Kiều và lấy được Vân Anh làm vợ. Từ câu chuyện này, Lam Kiều được cấp một hàm nghĩa mới: đó là nơi người đẹp, làm chuyện nhân duyên. Đây không phải là mặt hiện thực mà là mặt biểu trưng, mặt giá trị phong cách của điển cố. Người viết văn dùng Lam Kiều với cấp độ biểu trưng, vì thế mới có các câu:

Cầu Lam hội ấy đành khôn hẹn,

Con tạo trời kia bỗng khéo xây.

(Lâm tuyền kỳ ngộ)

Chày sương chưa nện cầu Lam,

Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?

(Truyện Kiều)

Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,

Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.

(Truyện Kiều)

Trong các ví dụ trên, các tác giả không có ý định nói đến một chiếc cầu cụ thể nọ ở tỉnh Thiểm Tây (mặt hiện thực) mà muốn ám chỉ đến chuyện nhân duyên, chuyện tìm người đẹp (mặt biểu trưng, mặt giá trị). Mặt hiện thực chỉ biết đến như một cái cớ. Điển cố chủ yếu dùng đến mặt sau, mặt giá trị phong cách. Không có mặt sau thì điển cố không bao giờ trở thành một biện pháp tu từ và vì vậy cũng không thể có cái gọi là điển cố.

Điển cố được sử dụng để biểu thị sự đánh giá về những phẩm chất của những con người nhất định. Do vậy, việc vận dụng điển cố luôn gắn với thái độ, tính cảm, quan điểm, tư tưởng,...của tác giả. Mỗi điển cố được dẫn bao giờ cũng chứa đựng tình cảm, thái độ yêu, ghét, thương xót, cảm thông, coi thường, khinh bỉ hay ngợi ca, trân trọng,...khi nhìn nhận sự việc, hiện tượng hay con người.

3. Điển cố trong truyện Kiều

Trong Truyện Kiều (Nguyễn Du ), điển cố được sử dụng với một mức độ dày đặc. Tùy theo quan điểm và sự thống kê của từng tác giả biên soạn sách mà số lượng điển cố được xác định có sự khác nhau. Theo tài liệu Đinh Gia Khánh (Chủ biên): "Điển cố văn học" - NXB Văn học - Hà Nội - 1975, thì Truyện Kiều có 299 điển cố (xem phần Phụ lục1).

Theo tài liệu Đoàn Ánh Loan: "Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố", NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - 2003, thì Truyện Kiều có 226 điển cố (xem phần Phụ lục 2). Còn theo sự thống kê của chúng tôi, có 305điển cố được vận dụng trong Truyện Kiều (xem phần Phụ lục 3).

Điển cố trong Truyện Kiều thường được lấy ở nhiều nguồn. Về cơ bản, chúng tôi nhận thấy các điển cố được tác giả vận dụng từ hai nguồn chính: trong từ kinh, sử, truyện, thơTrung Quốc và trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

a/ Điển cố cố xuất xứ từ kinh, sử, truyện, thơ Trung Quốc

Trong một thời gian dài chúng ta sử dụng chữ Hán như một thứ văn tự chính thống. Chữ Hán được dùng trong những văn bản mang tính quan phương lẫn trong sáng tác văn học. Cũng chính vì thế mà ta đã tiếp nhận thi liệu của văn học Trung Quốc thông qua thứ văn tự ấy như một điều tất yếu.

Những điển cố có xuất xứ từ các sách kinh điển như Kinh Thi, KinhLễ, Kinh Thư, Kinh Xuân Thu, Luận ngữ, Mạnh Tử, được tuyển chọn từ những lời giáo huấn của các thánh nhân về cách ứng nhân xử thế, về đạo làm người, thường được truyền dạy từ đời trước cho đời sau, trong gia đình, làm nội dung thi cử, tuyển chọn nhân tài cho đất nước. Điển cố có nguồn gốc từ sử truyện, thường được đúc kết từ những câu chuyện về các nhân vật lịch sử gắn liền với các địa danh nổi tiếng, tạo sự hấp dẫn cho người đọc và người nghe.

b/Điển cố có nguồn gốc từ kho tàng văn học dân tộc

Bên cạnh điển cố từ thi liệu trong văn học, kinh, sử Trung Quốc, tác giả Truyện Kiều còn vận dụng điển cố từ thi liệu văn liệu của văn học Việt Nam, trong đó chủ yếu là từ văn học dân gian. Các thể loại như ca dao, tục ngữ, thành ngữ...được tác giả vận dụng linh hoạt trong Truyện Kiều.

Hai nguồn điển cố trong Truyện Kiều được chúng tôi thống kê theo bảng sau:

Bảng 2.1. Bảng nguồn gốc điển cố

STT

Nguồn gốc điển cố

Số lượng

(điển cố)

Tỉ lệ

(%)

1

Kinh, sử, truyện, thơ Trung Quốc

268

87,9

2

Văn học dân tộc

37

12,1

Nhìn vào kết quả thống kê trên, phải thừa nhận rằng, các điển cố trong Truyện Kiềuchủ yếu được dẫn từ kinh, sử, truyện, thơ Trung Quốc (87,9%). Các điển cố có nguồn gốc từ ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt có một số lượng rất khiêm tốn (12,1%). Điều này chứng tỏ Truyện Kiều chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa, văn học Trung Quốc. Chúng ta đều biết, Trung Quốc là quốc gia có nền văn học phát triển. Trong nền văn học thế giới, văn học Trung Quốc nổi lên như một “đàn anh”, có lịch sử lâu dài và ngày càng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quốc gia khác. Ngay từ trước công nguyên (thời cổ đại) nền văn học Trung Hoa đã có những thành tựu rực rỡ như Kinh Thi, văn xuôi triết học, Sở từ, Sử ký… Sang thời trung đại, Phú thời Hán, Thơ thời Đường, Từ thời Tống và Tiểu thuyết thời Minh, Thanh là những thành tựu văn học rực rỡ trong nền văn học Trung Hoa. Nước Việt Nam đã trải qua bốn ngàn năm lịch sử, song có tới hơn một ngàn năm dưới sự đô hộ và cai trị của phong kiến phương Bắc, lại ở vị trí tiếp giáp với Trung Quốc, nên văn học Việt Nam nói chung và Truyện Kiều nói riêng chịu ảnh hưởng của văn học Trung Hoa là điều khó tránh khỏi.

Tuy nhiên, hai nguồn điển cố trên đã tạo cho ngôn ngữ Truyện Kiều một màu sắc rất độc đáo, vừa có tính bác học lại vừa mang tính bình dân. Sự kết hợp này đã mang lại sự thành công ngôn ngữ Truyện Kiều nói chung.Vì vậy, khi đánh giá tài năng sử dụng của tác giả, đánh giá về giá trị của tác phẩm, chúng ta không nên chỉ truy tìm nguồn gốc của nó, mà nên đánh giá nhà thơ đã dùng nó sáng tạo như thế nào để làm nên một câu thơ đẹp. Vì để có được kết quả dùng điển hay, những từ ngữ câu chuyện của điển cố phải được hòa nhập vào nhau, tạo thành một sức sống mới cho câu thơ mà không gây khó khăn cho người đọc trong việc tìm hiểu nội dung ý nghĩa của nó.

Điển cố trong Truyện Kiều như trên đã nêu, được phân ra làm hai loại: loại dùng điển và loại dẫn kinh.

Loại dùng điển dựa vào các câu chuyện, sự tích nổi tiếng trong sách để lấy ra giá trị biểu trưng. Nó được vận dụng chủ yếu theo 3 phương thức sau:

- Sự thật hoặc sự việc cốt lõi.

- Nhân vật tính cách, cốt cách điển hình cho một phẩm chất, một thái độ sống.

- Tên địa danh, sông, núi,… biểu trưng cho một khái niệm phổ biến.

Loại dẫn kinh thường lấy từ ngữ trong các sách kinh điển, trong các câu nói nổi tiếng của người xưa. Loại điển cố này cũng được Nguyễn Du vận dụng theo 3 cách sau:

- Lấy trọn một ý, một đoạn ngữ trong nguyên văn.

- Cắt lấy một vài chữ đầu hay chữ cuối của câu văn trong sách.

- Lựa chọn một vài từ trong câu nói của kinh truyện cấu tạo lại theo cách riêng của tác giả.

(Còn tiếp)

Thơ vịnh Kiều trên Nam Phong tạp chí

PGS.TS. Nguyễn Đức Thuận

(Trường Đại học Hải Phòng)

alt

Nam Phong tạp chí(1) là ấn phẩm “Văn học-Khoa học tạp chí”, ra đời từ tháng 7 năm 1979 và đình bản vào tháng 12 năm 1934, với “thành phẩm” để lại là 210 số. Chủ bút tạp chí này là Phạm Quỳnh(2), một trí thức tài hoa, uyên bác, đồng thời cũng là một trong số những cây bút chủ đạo của tạp chí Nam Phong.Đây là một trong những tạp chí hàng đầu đã góp phần hiện đại hóa văn học Việt Nam, ở khu vực “đầu nguồn” của văn học hiện đại những năm đầu thế kỷ XX.

Phần “Văn học” của tờ tạp chí này bao gồm nhiều thể loại; có văn chương sáng tác, như: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, ký; có văn dịch; văn chương sưu tầm, và có cả văn lý thuyết, như: nghiên cứu, phê bình, lý luận văn chương v.v… Thơ ngâm vịnh sáng tác chiếm một lượng không nhỏ trên tạp chí này, bao gồm nhiều đề tài, nội dung, trong đó đặc biệt là thơ vịnh Kiều. Bởi Truyện Kiều là áng văn chương tuyệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, có sức sống sâu rộng và lâu bền trong lòng dân tộc, trở thành đề tài khơi gợi cảm hứng, bày tỏ tâm sự của nhiều người trong xã hội xưa. Từ Truyện Kiều, người ta có thể lảy Kiều, vận Kiều, tập Kiều và với các nhà nho xưa còn có cả vịnh Kiều nữa.

Vịnh cũng là một cách làm thơ của các nhà thơ thuở trước.Thơ vịnh có nguồn gốc từ Trung Quốc và phát triển mạnh vào thời kỳ nhà Đường. Thơ vịnh thường bắt đầu bằng sự miêu tả, nghiêng về thể phú (phú giả phô dã). Về nguyên tắc, việc xác định đối tượng được miêu tả chủ yếu dựa vào nhan đề của bài thơ.Các câu thơ trong bài thường làm nhiệm vụ miêu tả hình dạng, đặc điểm, sự việc, tình và chí của nhà thơ, nhưng tuyệt đối không được nhắc đến từ chỉ đối tượng được vịnh. Thơ vịnh Kiều trên Nam Phong tạp chí cũng tuân thủ những đặc điểm chung này của thơ vịnh.Tuy nhiên, không phải người nào cũng thực hiện được nghiêm nhặt điều đó.

Số lượng thơ vịnhKiều trên Nam Phong tạp chítheo khảo sát của chúng tôi, tổng số có đến 78 bài. Nếu đem thu thập, sưu tầm lại đầy đủ những bài thơ vịnh Kiều trên Nam Phong, cũng có thể làm thành một cuốn sách riêng biệt được. Riêng hai số 54 và 210 đã có tới 46 bài (số 54 có 31 bài; số 210 có 15 bài). Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, trong hoàn cảnh ngặt nghèo của lịch sử, các tác giả có thơ vịnh Kiều nhiều khi nhằm để bày tỏ thái độ, hoặc bóng gió xa xôi một điều gì đó, chứ không hẳn đã là câu chuyện ngâm vịnh thuần túy văn chương.Trong số những bài thơ này, nhân vật trung tâm trong tác phẩm Truyện Kiều là nàng Vương Thúy Kiều được nhiều người cầm bút mến mộ tài sắc, phẩm hạnh và thương xót cho cuộc đời đầy bi kịch của nàng mà viết thơ vịnh nàng nhiều hơn cả. Các nhân vật khác trong Truyện Kiều như Kim Trọng, Thúy Vân, Thúc sinh, Mã Giám sinh, Sở Khanh, Từ Hải…mỗi nhân vật năm ba bài, đều có người này người kia ngâm vịnh!

Thơ vịnh Kiều trên Nam Phong bắt đầu từ bài Vịnh Kiều do Nguyễn Mạnh Bổng sưu tập của cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, đăng trên số 4, tháng 10, năm 1917. Bài này, như đã biết, Nguyễn Khuyến nhằm “chửi mát” Lê Hoan, kẻ đã mở ra cuộc thi vịnh Kiều vào năm 1905:

Thằng bán tơ kia giở mối ra,

Làm cho bận đến cụ viên già.

Và cụ kết thúc bài thơ bằng hai câu thật ý vị:

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ,

Đời trước làm quan cũng thế a?

Tiếp đến số 5, Nam Phong cho đăng 4 bài vịnh do Nguyễn Mạnh Bổng sao lục thêm nữa của cụ là: Vịnh Kiều, Viếng Đạm Tiên gặp Kim Trọng, Mắc tay Hoạn Thư, và Kiều khuyên Từ Hải hàng. Những bài vịnh Kiều của Nguyễn Khuyến cũng như của các tác giả khác, đều làm theo thể thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật. Đặt vào thời điểm những năm đầu thế kỷ XX, nhất là lại nằm trong không khí cuộc thi vịnh Kiều do Lê Hoan tổ chức, nên cảm hứng chủ đạo trong các bài thơ vịnh của cụ là cảm hứng châm biếm, mỉa mai. Nhân vật Thúy Kiều “bỗng dưng” bị cụ Tam nguyên chỉ trích, vì để tỏmột thái độ nào đó, một ý nào đó của cụ đối với xã hội thực dân nửa phong kiến bấy giờ. Ví như bài Mắc tay Hoạn Thư, sau khi Kiều bị bọn Ưng, Khuyển bắt đem về nhà mụ Hoạn, cuối bài thơ vịnh này, cụ Tam nguyên viết lấp lửng:

Con ở ngẩn ngơ nhìn mặt cũ,

Nhà thầy tưng hửng mất đồ chơi.

Ông giời cũng khéo chua cay nhỉ,

Một cuộc bày ra cũng nực cười.

Từ đó cho tới ngày đình bản (tháng 7 năm 1934), trên Nam Phong thường có thơ vịnh Kiều.Liễu viênDương Mạnh Huy có đăng tới 4 bài (Nam Phong số 6, tháng 12/1917): Vịnh nhan sắc Thúy Kiều, Vịnh tài điệu Thúy Kiều, Vịnh nhân duyên Thúy Kiều, Vịnh Thúy Vân. Sắc đẹp “hoa hờn nữa liễu ghen” và cuộc đời “bạc mệnh” của nàng Kiều được người viết miêu tả qua ba bài thơ vịnh với giọng điệu cảm thông thương xót. Còn với Thúy Vân, thì tác giả lại không có được giọng điệu xót thương như thế: “Cái số dì Vân tốt lạ lùng/Sẵn nong, sẵn né, sẵn con bồng/ Thoa vàng nguyền ước nhờ duyên chị/ Thềm ngọc vinh hoa hưởng phúc chồng…”.Tác giả Trần Mỹ trong bài Vịnh Thúy Kiều (số 25, trang 69) “nức tiếng khen” cho nàng Kiều “đôi vai chữ hiếu” và “một món tơ tình” thủy chung”. ĐếnNam Phong số 44, (tháng 2/1921) Vũ Tích Cống với 4 bài: Vịnh Từ Hải, Vịnh Thúc sinh, Vịnh Sở KhanhVịnh Thúy Kiềuđã có thêm ba nhân vật nữa được vịnh. Từ Hải hiện lên thật oai phong, lẫm liệt (“Dọc ngang trời đất hơn trăm trận/ Vùng vẫy giang hồ một lưỡi gươm”), thế mà kết cục thật bi thảm:

Trăm điều ngang ngửa vì ai đó

Cũng tiếc cho tay dúng phải chàm!

Chỉ vài dòng miêu tả khi tác giả “tóm bắt” được đúng hành tích nhân vật, mà gã Sở Khanh hiện lên thật rõ ra là một kẻ đểu cáng, lừa đảo:

Quyến yến rủ anh tay độc địa,

Sổ lồng tháo cũi miệng vung trời.

Đăc biệt, trên Nam Phong tạp chí số 54 (tháng 12/1921), Mai đình Phạm Xuân Khôi đã diễn nôm 30 bài Thơ vịnh Kiều(chưa rõ tên tác giả) và ông sáng tác thêm 1 bài nữa, tổng là 31 bài. Với trên ba mươi bài thơ vịnh này, hầu như toàn bộ những tình tiết chính của nội dung Truyện Kiều đã được thể hiện khá đầy đủ. Bài Tổng vịnh của tác giả Phạm Xuân Khôi đã khái quát những bi kịch của đời Kiều chỉ qua mấy dòng thơ (“Hai phen bán phấn đâu ngờ nợ/ mấy độ xe tơ há phải duyên…”). Các bài thơ vịnh khác, như: Hội đạp thanh, Mộng Đam Tiên, Thàng bán tơ gây vạ, Bán mình chuộc cha, Tơ chị gán duyên em, Gặp Mã giám sinh, Gặp Tú bà, Gặp Thúc sinh, Gặp Bạc bà, Gặp từ Hải, báo ơn báo oán, Gieo mình sông Tiền Đường… đã dựng lại đầy đủ những khúc “đoạn trường” của đời Kiều. Bài vịnh vào chùa Chiêu ẩn có những câu thơ hay nói nên tâm trạng đau xót của nàng Kiều: “Bình hồng trước đã nhiều tân khổ/ Trai giới nay dường nhẹ kiếp duyên/ Chuông gióng canh khuya tàn giấc mộng/ Trăng soi sáng khắp rạng màu thiền…”(trang 505). Khi Kiều bị ép gả cho Thổ quan, tâm trạng của nàng đến cảnh ngộ này là buồn đau nhất. Hai câu thực trong bài Gả cho Thổ quan (trang 507) ngòi bút của tác giả thực đã tả được nỗi lòng Kiều nhi lúc bấy giờ:

Đoạn trường khúc ấy khôn cầm lệ,

Bạc mệnh gương đây thực tỏ tình.

Đủ biết tác giả cũng đã đồng cảm với cuộc đời dâu bể của nàng Kiều đến thế nào!

Trong bài Vịnh Thúy Kiều(số 60, trang 475), Nguyễn Giản Khanh sử dụng thủ pháp “tiêu hình tả ý” (bỏ hình lấy ý) rất đắc dụng, nhằm làm nổi rõ “kiếp đoạn trường” của đời Kiều: “Réo rắt dây đàn cung bạc mệnh/Ngẩn ngơ nét bút áng mây vàng/ Mười lăm năm ấy thân lưu lạc/Trời để làm gương bạn má hường”. Cũng với thủ pháp này, bài Vịnh Kiều (số 60, trang 475) của Đặng Xuân Quýnh nói về cảnh ngộ Kiều dặn lại em trước lúc ra đi, giọng điệu thật thê thảm:

Ân nặng đã đành thân phận chị

Tình sâu em phải tính sao đây?

Đặc biệt, bài thơ vịnh Khóc Kiều của Trần Huy Liệu (số 96, trang 588) có lẽ không dừng ở câu chuyện chia sẻ thân phận “bạc mệnh hồng nhan” và cuộc đời “đoạn trường” của nàng Kiều, mà ẩn sau lời kết bài thơ còn có điều gì đó xa xôi…

Chỉ vì chưa gặp người tri kỷ

Mà luống long đong mãi với đời.

Lối kết thúc bất ngờ này làm cho ý bài thơ vịnh đã chuyển sang hướng khác!

Bài vịnh Thúy Kiều của Phác Ngọc (số 106, trang 500), xét trên bình diện ngôn ngữ, tác giả sử dụng chất liệu ngôn từ vừa đủ mà ý thơ vẫn dư ba: “Rớp nhà đến nỗi thân lưu lạc/ Bạc phận xui nên kiếp dãi dầu!/ Lấy hiếu làm trinh đà mấy kẻ/ Tiền Đường một dải nước nông sâu”. Cho đến bài Thương Kiều gặp phải mụ Hoạn Thư ghen tuông rất nghiêm khắc của Lý khê Đặng Vũ Trợ (số 112, trang 614) tác giả muốn “nhắn nhủ bạn quần thoa” cảnh “chồng chung” như đời Kiều đây thì đau khổ biết chừng nào:

Trước hàm sư tử gửi đằng la,

Oan nghiệt vì đâu giở mối ra!

Bó gối ngán thay chàng tuổi trẻ,

Trêu gan riêng giận chị trăng già…

Sở Khanh là một nhân vật xấu xa bởi hành vi lừa lọc, “một tay chôn biết mấy cành phù dung” ở lầu xanh, qua ngòi bút của Nguyễn Huy Đại càng không mấy ai quên: “Kìa tiên “tích việt” chưa khô mực/ Mà ngựa truy phong đã tếch ngàn”( số 113, trang 89). Lấy cảm hứng từ những nhân vật phản diện, Trực viên Phạm Văn Nghị đem đến cho người đọc hình ảnh của mấy gã “làng chơi”, kẻ “bạc tình”, kẻ “keo kiệt” đê tiện, “bất lương” qua ba bài thơ vịnh khá đặc sắc. Đây là hình ảnh Thúc sinh: “Cao bay xa chạy còn khuyên hão/ Một án bạc tình chối được chăng?”; Mã Giám sinh: “Cờ đã đến tay liền phất thử/ Lời văng vào mặt cũng xin đành”; và đây là hình ảnh của gã “đại bịp” Sở Khanh: “Mặt mũi nhìn xem cũng dịu dàng/ Lầu xanh luẩn quất kiếm ăn thường/…Ba mươi lạng bạc kia là mấy/ Đế mãi ngàn thu tiếng bất lương”( số 145, trang 625). Đến số chót, số 210 (tháng 12/1934), Nam Phong tạp chí đăng tất thảy 15 bài vịnh Kiều của tác giả Hương Sơn. Không giống với nhiều bài vịnh Kiềutrước đó, hấu hết các nhân vật trong Truyện Kiều đều “được” tác giả nhìn lại bằng một góc nhìn khác. Đây là hình ảnh Thúy Kiều trong con mắt tác giả: “Thôi đừng trách lẫn mệnh ghen tài/ Vì mối tơ tình buộc đấy thôi/ Mồ cỏ thương hoài con đĩ dại/ Bóng hoa mê tít cậu đồ choai…”(số 210, trang 346). Với Kim Trọng, thì:

Chỉ quen phong nhã nghề chim gái,

Chẳng giữ trâm anh cái nếp nhà.

Còn về Thúy Vân, tác giả như “đi guốc vào trong bụng” của nàng: “Tình chị thôi em đã hiểu rồi/ Giả vờ mà hỏi thử nhau chơi/ tơ duyên nếu chắp người hôm nọ/ Chẳng lạy thì em cũng chịu lời…”(số 210, trang 346).

Thơ Vịnh Kiều trên Nam Phong tạp chí quả thật là đa dạng và đem đến cho người đọc nhiều thú vị.Truyện Kiều của thiên tài Nguyễn Du đúng là một kiệt tác, mà ở đó người đọc có thể lấy cảm hứng để làm nên biết bao nhiêu bài thơ ngâm vịnh.Cái “khéo” của người làm thơ vịnh là biết “tóm bắt” lấy những đặc điểm cơ bản của nhân vật, cảnh ngộ, chi tiết… của tác phẩm để thể hiện trong bài thơ vịnh của mình. Vận dụng sáng tạo đặc trưng của thể thơ ngâm vịnh, các cây bút vịnh Kiều trên Nam Phong đã đem đến cho người đọc nhận thức sâu sắc hơn về tác phẩm Truyện Kiều. Và điều thú vị là ở chỗ, nhiều tác giả đã tiếp nhận thế giới nhân vật Truyện Kiều từ những góc độ khác nhau, đem đến cho người đọc những cảm hứng mới.Nếu tiếp tục phân tích những bài thơ vịnh Kiều trên Nam Phong tạp chí, chắc chắn chúng ta sẽ còn tìm thêm được nhiều điều thú vị.

N.Đ.T

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1). Nam Phong tạp chí: Văn học-Khoa học tạp chí, Đông Kinh ấn quán, Imprimerie tonkinoise 14-16, Rue du Coton, Hanoi (từ tháng 7/1917-12/1934).

(2). Phạm Thị Ngoạn, Tìm hiểu Nam Phong tạp chí 1917-1934. Nguyên tác Pháp văn đăng trong Kỷ yếu đệ nhị và đệ tam cá nguyệt 1973 của Hội nghiên cứu các vấn đề Đông Dương (Bulletin de la Societé des Etudes Indochinoises), Ý Việt, 1993.

(Phạm Quỳnh (1892-1945), bút danh Thượng Chi, Hồng Nhân, Hoa Đường, Lương Ngọc. Nguyên quán tỉnh Hải Dương. Năm 1908 đỗ thủ khoa trường Trung học bảo hộ (Collefge du Protectorat), từng làm ở Viện Viễn Đông Bác  Hà Nội. từ năm 1917-1932 Phạm Quỳnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong).

(3). Từ điển văn học, bộ mới, Nhà xuất bản Thế Giới, 2004.

(4). Vũ Ngọc Phan, (1998), Nhà văn Việt Nam hiện đại, tập 1, Văn học, Hà Nội, trang 119.

(5). Phạm Quỳnh (1892-1945), Tuyển tập và di cảo (1992), Bản quyền Phạm Thị Hoàn, An Tiêm, Paris, trang 378.

(6). Nguyễn Du (1971), Truyện Kiều,NXB Văn học, Hà Nội.

(Bài đã đăng trên Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội, Volume 58, Number 2, năm 2013, tr. 27-31).

Đại thi hào Nguyễn Du và kiệt tác "Truyện Kiều" - Phong Lê

Nhân dịp kỷ niệm 250 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du (1765-2015), Giáo sư Phong Lê, Chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam đã có bài viết quan trọng khắc hoạ rõ nét đóng góp của “Danh nhân văn hoá thế giới”…

Kieuhoc.com trân trọng giới thiệu cũng bạn đọc.


Giáo sư Phong Lê phát biểu tại Lễ kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du
do Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng và VPĐD Hội Kiều học Việt Nam tại Hải Phòng
tổ chức sáng 27/12/2015.

Nói Nguyễn Du, ở thời điểm hôm nay - kỷ niệm 250 năm sinh (1765 – 2015) là nói đến những kỷ lục mà trước ông và sau ông chưa ai sánh được. Một khối lượng trang viết về ông trên hàng trăm pho sách, hàng chục vạn trang, không lúc nào ngưng nghỉ, trong ngót hai trăm năm, và càng về sau càng dầy, càng nặng. Một số lượng người đọc không thể nào tính hết, vì đó là sự cuốn hút khắp mọi tầng lớp cư dân, bất kể địa vị xã hội, bất kể mọi thành phần sang hèn, kể từ một ông vua tự nhận là hay chữ đến mọi tầng lớp bình dân chưa hề biết chữ, trong đó không hiếm những người có thể thuộc lòng hàng nghìn câu thơ Kiều, hoặc có thể đọc được rất nhiều đoạn. Một sự đọc không theo các phương thức quen thuộc mà rất linh hoạt, biến hoá để mở rộng trường diện hứng thú cho sự thưởng thức, tuỳ thuộc vào những nhu cầu tinh thần khác nhau của nhiều lớp người. Đó là lẩy Kiều, vịnh Kiều, tập Kiều, xướng hoạ về Kiều cho các bậc trí thức, các tao nhân mặc khách; và bói Kiều cho mọi tầng lớp cư dân, bất kể sang hèn. Sức sống Truyện Kiều còn vượt ra ngoài sự đọc, để tràn sang nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác như sân khấu, ca nhạc, hội hoạ, với không ít những sự kiện dấu ấn như Hội quán Cà phê Kiều ở Vinh, Vườn Kiều ở Đồng Nai… Một tiềm năng gây nên những va chạm, đụng đọ sóng gió trong công luận theo hai chiều, hoặc nhiều chiều của khen và chê. Một bên là:

Mê gì mê đánh tổ tôm

Mê nngựa Hậu bổ mê Nôm Thuý Kiều

 Và bên kia:

 Đàn ông chớ kể Phan Trần

Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thuý Kiều

 Và kéo dài cho tới thời hiện đại, với đỉnh cao gay gắt nhất là cuộc tranh luận giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế, năm 1924.

Vân vân…

Những kỷ lục như trên là diễn ra xung quanh Truyện Kiều; và nói Truyện Kiều là nói Nguyễn Du, người sáng danh nhất không chỉ trong nền văn chương Việt trung đại mà là cả lịch sử văn chương Việt Nam.

Để tiếp tục câu chuyện kỷ lục ở Nguyễn Du. Chính ông là người đầu tiên của văn chương Việt được nhân loại tôn vinh là Danh nhân văn hoá thế giới vào năm 1965 – nhân kỷ niệm 200 năm sinh, do Hội đồng hoà bình thế giới trao tặng. Cũng chính ông, lần thứ hai được tổ chức UNESCO tôn vinh là Danh nhân văn hoá thế giới, vào năm 2015 – nhân 250 năm sinh, sau hai tác giả khác là Nguyễn Trãi, năm 1980, nhân 600 năm sinh, và Hồ Chí Minh, năm 1990, nhân 100 năm sinh. Vậy là hai lần Nguyễn Du đi ra đại lộ văn chương thế giới trong tư cách một tác giả văn chương Việt.

Đối với dân tộc Việt Nam, Nguyễn Du là một tác gia lớn, với một sự nghiệp viết không thực sự đồ sộ nhưng có giá trị kết tinh rất cao. Trước hết là ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập (78 bài), Nam Trung tạp ngâm (34 bài), Bắc hành tạp lục (131 bài) in rất đậm bản sắc và bản lĩnh cá nhân một hồn thơ rất giàu tình thương đời, tình yêu nước và yêu dân. Cùng với thơ chữ Hán là thơ Nôm, với Văn tế thập loại chúng sinh, 184 câu song thất lục bát, dồn chứa một cảm thông cùng tận với tất cả những thân phận khổ đau, bất hạnh. Trước đó là hai tác phẩm ngắn ở tuổi hoa niên: Thác thời trai phường nónSinh tế Trường Lưu nhị nữ

Nếu chỉ bấy nhiêu thôi, Nguyễn Du cũng đã đủ tư cách một tác giả tiêu biểu của văn chương Việt trung đại như nhiều tên tuổi khác trước và sau ông. Thế nhưng Nguyễn Du còn là tác giả của Truyện Kiều; và đây mới thực sự là sự kiện làm thay đổi tầm vóc, khiến cho Nguyễn Du trở thành một đỉnh cao đột xuất của văn chương Việt; và với tầm vóc đó, rấ dễ dàng và nhanh chóng, không chỉ công chúng Việt mà về sau là cả nhân loại nhận ra ngay một tương đồng giữa Nguyễn Du với nhiều danh nhân khác trên thế giới như Đantê (1265 – 1321) với Thần khúc của Ý, như Gớt (1749 – 1832) với Phuax của Đức, như Puskin (1799 – 1837) với Épghênhi Ônêghin, Truyện Kiều là một kết quả thăng hoa đột xuất của Nguyễn Du, khiến cho chỉ cần nói đến Truyện Kiều là đủ nói đến Nguyễn Du - người ta đã đem một giái trị tinh thần rất tươi mới và đặc trưng cho văn chương Việt, ngôn ngũ Việt, bản sắc Việt, hồn Việt…

Trên dưới 35 văn bản dịch Truyện Kiều của hơn 20 ngôn ngữ trên thế giới trong hơn một thế kỷ qua, và vẫn còn đang được tiếp tục – đó là đường biên rộng nhất cho sức lan toả của một tác phẩm.

Vậy là, với bấy nhiêu chứng cứ, đủ để nói về Đại thi hào Nguyễn Dukiệt tác Truyện Kiều. Tên sách này: Truyện Kiều gần như hàm chứa đầy đủ và súc tích nhất nội dung của kiệt tác, nếu ta theo dõi một lịch sử thay đổi của tên sách, bắt đầu từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, chuyển sang Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, rồi sang Kim Vân Kiều tân truyện, theo san nhuận của Phạm Quý Thích, và cuối cùng là Truyện Kiều (hoặc Kiều – nói tắt). Cái tên mới này ra đời vào lúc nào, ở bản in nào tôi chưa được biết, nhưng theo tôi hiểu thì đó chưa hẳn đã là chủ đích của Nguyễn Du, nhưng lại phù hợp hơn cả với tâm thế tiếp nhận của người đọc dân tộc.

Bởi Truyện Kiều, trước hết và chủ yếu là truyện về (hoặc của) một nhân vật có tên Thuý Kiều. Qua cách kể, tả, dựng của Nguyễn Du thì đó là nhân vật có sứ mệnh gánh chịu nỗi đau cho một nửa nhân loại:

 Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

(Truyện Kiều)

Đau đớn thay phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

(Văn tế thập loại chúng sinh)

 Khác với tất cả các nhân vật nữ trong tất cả các truyện Nôm khuyết danh hoặc có tên tác giả ra đời trong hai thế kỷ XVIII và XIX như Ngọc Hoa, Cúc Hoa, Dao Tiên, Ngọc Khanh, Trương Quỳnh Như… cho đến Kiều Nguyệt Nga, Kiều không có vướng víu gì với lễ giáo phong kiến để mà chống lại nó hoặc tìm cách dung hoà, thoả hiệp với nó. Kiều cũng không cần phải vất vả đi tìm tự do cho tình yêu, để đối mặt với những lực cản cho tình yêu. Bởi Kiều rất chủ động trong tình yêu, còn hơ cả “đối tác”. Trước và sau 15 năm chìm nổi, Kiều có đến ba mối tình, và mối tình nào cũng có dư vị. Không kể Kim Trọng, Từ Hải, ngay cả Thúc Sinh là anh trai con nhà buôn lấy vợ nhà quan, quen thói bốc giời và sợ vợ, thế mà vẫn được hưởng ở Kiều một nỗi nhớ tuyệt vời, đẹp như cổ tích:

 Vầng trăng ai sẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

 Sau 15 năm ê chề trong thân phận ong qua bướm lại, buộc phải biết “vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề”, phải hiểu “nước vỏ lựu, máu mào gà”, vậy mà khi gặp lại Kim Trọng, Kiều vẫn tin tưởng còn một chữ “trinh” để dành cho người yêu đầu:

 Chữ trinh còn một chút này

Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan

 Có một nàng Kiều nào trong đời, và tronh văn chương, từ cổ đến hiện đại đạt được một sự sống lung linh và đầy đặn đến thế! Sự sống của một nhân cách tự do, vượt lên nhân quần bằng cả sắc tài.

Thế nhưng Kiều lại phải gánh chịu một sự đầy đoạ trên khắp mặt sự sống nhân gian chồng chất oan khổ.

Và đây là sự vượt thoát của Nguyễn Du, để qua Kiều, sau Kiều mà tạo dựng cả một xã hội với rất nhiều gương mặt đại diện, kể từ thằng bán tơ, qua Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Bạc Hà, Bạc Hạnh, Khuyển ưng, Khuyển Phệ… cho đến Hồ Tôn Hiến.

Trước những áp lực đến từ thế giới đó, Kiều đã phải bao lần thay thân đổi phận:

 Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần

Biết thân đến bước lạc loài

Nhị đào thà bẻ cho người tình chung

Thân lươn bao quản lấm đầu

Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa

Ma đưa lối quỷ đưa đường

Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.

 Không một nhân vật nào trong lịch sử văn chương Việt lại phải chịu một sự bủa vây dầy đặc những mắt lưới oan khiên đến thế.

Tôi muốn nói ở đây, với Truyện Kiều, và với nhân vật Thuý Kiều, Nguyễn Du đã tạo được một giao thoa giữa tư duy nghệ thuật cổ điển và hiện đại. Tức là một vượt thoát rấ ngoạn mục bộ đồng phục của văn chương cổ điển với mọi ước thúc, ràng buộc chật chội của nó, sang bộ cánh hiện đại khiến cho bất cứ người đọc nào trong chúng ta hôm nay cũng không thấy bỡ ngỡ hoặc xa lạ.

Nếu cần một câu thơ đúc kết được trọn vẹn thành tựu của sự vượt thoát đó ở Nguyễn Du, thì đó là:

 Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

 Chỉ 8 chữ maf gắn nối được phương thức tư duy của chủ nghĩa hiện thực với đích đến là chủ nghĩa nhân đạo.

Chủ nghĩa hiện thực, theo tôi nghĩ, đó là một thành tựu lớn của tư duy nghệ thuật nhân loại, ở cá phương Tây và phương Đông. Ở phương Tây, chủ nghĩa hiện thực đạt đỉnh cao sáng tạo vào cuối thế kỷ XIX, với các đại diện kiệt xuất như H.Bandăc (1799-1850), Xtăngđan (1783-1842), L.Tonxtôi (1828-1910), F.Dotstoiepxki (1821-1881)…; rồi chuyển sang Chủ nghĩa tự nhiên với E.Zola (1840-1902) và Chủ nghĩa hiện đại, rồi Hậu hiện đại… Do sự phát triển của phong trào vô sản nên có một nhánh phát triển khác, bắt đầu từ Công xã Paris (1870-1871), qua Cách mạng tháng Mười Nga – 1917 mà thành Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với các đại diện M.Gorky (1868-1936), M.Solokhôp (1905-1984), L.Aragông (1897-1982)… Văn học Việt Nam đến với thời hiện đại dưới áp lực của chủ nghĩa thực dân và thông qua xã hội thuộc địa nên buộc phải bỏ qua rất nhiều chặng trên con đường đó, cho đến đầu thế kỷ XX; nhưng chủ nghĩa hiện thực về “những điều trông thấy” vẫn luôn là mục tiêu mà chỉ nhưng thiên tài như Nguyễn Du (và về sau là Cao Bá Quát) mới có thể vươn đến, một cách không tự giác, nhờ vào một chủ nghĩa nhân đạo quá rộng lớn và sâu sắc so với tất cả những người cùng thời. Ở kết quả này, ta sẽ thấy nhận xét của Tiên phong Mộng Liên Đường chủ nhân ngay từ năm 1820 – năm Nguyễn Du qua đời, là sâu sắc biết chừng nào: “nếu không phải có con mắt trông cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy”.

Như vậy, nói Nguyễn Du, qua Truyện Kiều là nói một chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và rộng lớn gắn với một tư duy nghệ thuật vượt tầm thời đại. Nhưng như vậy vẫn là chưa đủ để nói về đóng góp của Nguyễn Du và giá trị kiệt tác của Truyện Kiều. Truyện Kiều có sức sống vượt thời gian, bởi đó là sự kết nối và đưa lên đỉnh cao tuyệt vời vẻ đẹp và sức sống của tiếng Việt. Một tiếng Việt đến từ các truyền thuyết giữ nước và dựn nước của cha ông, nhờ đó mà lưu giữ được cho muôn đời sau truyện con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng, Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, các vua Hùng, nó là biểu trưng và kết tinh cho sự chống chọi với âm mưu xâm lược và đồng hoá của phương Bắc trong hàng nghìn năm. Một tiếng Việt trong 254 bài của Quốc âm thi tập, có giá trị không thua Bình ngô đại cáo của cùng một danh nhân Nguyễn Trãi, thế kỷ XV. Một tiếng Việt rất bác học và rất dân gian, rấ cổ điển và rất hiện đại trong 3254 câu thơ Kiều, xứng danh là “thiên thu tuyệt diệu từ”, là một khúc “nam âm tuyệt xướng”, sau Quốc âm thi tập ngót 400 năm. 3254 câu với 22778 chữ gẫn như tất cả cứ mới mẻ, cứ nguyên vẹn, cứ tinh khôi như thế mà có ở khắp cửa miệng mọi người dân Việt suốt hơn 200 năm qua; mà in sâu vào bộ nhớ của bất cưa ai sinh ra trên dải đất mang hình chữ S này.

Hơn ai hết, Nguyễn Du là bậc thầy tuyệt vời nhất, là đại diện sáng giá nhất cho tất cả những ai chọn nghề viết văn, làm thơ, tức là chọn ngôn ngữ làm phương tiện cho nghề và nghiệp của mình. Thời 1930-1945, khi đất nước còn bị nô lệ, Hoài Thanh đã có một lý giải rất hay cho thành công của Thơ mới: “Họ (những nhà Thơ mới) đã dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt”. Trước đó ngót 20 năm, có một câu nói gây tranh cãi gay gắt” Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Sự thể quả khó tránh bởi nó được phát ngôn vào một thời điểm không thích hợp. Nhưng xét rộng ra, và nhìn vào hành trình dài của lịch sử, câu nó đó không phải không có một phần sự thật.

 Hồ Tây, chiều 29/9, sáng 30/9/2015
P.L

Bàn thêm về nhân vật Hồ Tôn Hiến trong "Truyện Kiều"

Chỉ với bốn câu: "Có quan tổng đốc trọng thần/ Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài/ Đẩy xe vâng chỉ đặc sai/ Tiện nghi bát tiễu việc ngoài đổng nhung" (câu 2451-2454), Hồ Tôn Hiến đã được tác giả giới thiệu một cách khái quát: chức quan to đứng đầu một tỉnh thời phong kiến, có tài cai trị, được vua tin tưởng cử ra trận.

Ngay từ đầu, Hồ Tôn Hiến đã nghiên cứu kỹ đối phương, không đánh giá thấp Từ Hải, biết "Từ là đấng anh hùng", lại biết người luôn sát cánh, cùng bàn bạc việc quân với Từ Hải là Thúy Kiều - vợ của Từ Hải  nên chỉ "đóng quân" chứ không động binh vội mà thực hiện mưu kế để làm tan rã ý chí chống đối của đối phương. Mưu kế đó là "Chiêu an" (kêu gọi ra hàng để được yên ổn, nghĩa là ân xá cho kẻ chống đối, kẻ nổi loạn).

Sau khi tuyên bố ân xá thì thuyết phục đầu hàng. Cùng với lời "thuyết hàng" là của cải vật chất "ngọc vàng gấm vóc" kèm theo. Có thể nói ngay từ đầu, Hồ Tôn Hiến đã định ra được chiến lược (tức kế hoạch bao quát để thắng địch), cụ thể là đánh vào ý chí đối phương, đánh vào lòng tham của con người rồi tùy theo sự biến chuyển mà có chiến thuật tiếp theo. Trước những lý lẽ thuyết hàng và những vật phẩm hậu hĩnh đó, thái độ của Từ Hải ra sao? Người anh hùng vẫn rất tự hào rằng "Một tay gây dựng cơ đồ/ Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành", Từ Hải cũng nghĩ đến nỗi nhục nhã, sự bỡ ngỡ lạc lõng... khi "Bó thân về với triều đình/ Hàng thần lơ láo phân mình ra đâu".

Từ Hải đã khẳng định: "Sao bằng riêng một biên thùy/ Sức này đã dễ làm gì được  nhau" và tỏ ra ý chí không chịu khuất phục: "Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai".

Tóm lại, dù mưu kế "chiêu an", dù lễ vật hậu hĩnh, dù lời "thuyết hàng" ngon ngọt cũng không có tác dụng gì, cũng không lay chuyển được người anh hùng chống bất công, ưa tự do, không chịu khuất phục. Ta có thể nói rằng: ngón đòn đầu tiên mà Hồ Tôn  Hiến tung ra đã không tác dụng mảy may nào đối với Từ Hải. Nếu chỉ có thế thì cuộc chiến đôi bên sẽ diễn ra theo cách khác, nhưng sự đời lại không thế.

Như trên đã nói, Hồ Tôn Hiến biết Thúy Kiều "cũng dự quân trung luận bàn" nên ngoài lễ vật cho Từ Hải, Hồ Tôn Hiến "lại riêng một lễ" với nàng Kiều gồm: "Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân". Cách làm này của Hồ Tôn Hiến đã tỏ ra có tác dụng rõ rệt; "Lễ nhiều, nói ngọt, nghe lời dễ xiêu". Ta thấy có hai thứ: "lễ nhiều" và "nói ngọt". Thứ nào có ý nghĩa quyết định? "Nói ngọt" mà nói suông thì chẳng có giá trị gì. Vấn đề quyết định là "lễ nhiều". "Lễ" là "lễ vật", "lễ vật" nhiều đưa đến kết quả là "dễ xiêu". "Xiêu" là "xiêu lòng", là ngả theo ý người khác. Nói như bây giờ là nàng Kiều "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" theo chiều hướng thuyết hàng của triều đình. Ta thấy rõ cái "chước" của Hồ Tôn Hiến tỏ ra bước đầu có hiệu lực.

Trước khi nói đến những cái cớ mà nàng Kiều vin vào để thực hiện sự "xiêu lòng" của mình, ta cần phải nêu những đặc trưng của "tự diễn biến"... ra sao? Đặc trưng của "tự diễn biến"... là do chính mình cố tìm xem cái lý, cái cớ phù hợp với lợi ích của chính mình, bất kể nó đúng ở thời quá khứ nhưng lại sai ở thời hiện tại. Sau đây là bốn cái cớ mà nàng Kiều vin vào để biện minh cho sự xiêu lòng của mình.

Cớ thứ nhất là "Nghĩ mình mặt nước cánh bèo/ Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân". Cớ này xem ra đúng nhưng tiếc rằng đúng với quá khứ chứ không phải đúng với hiện tại, khi nàng là phu nhân của Từ công. Cớ thứ hai là "Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương". Xem ra điều mong ước này của kẻ tha hương muốn trở về quê quán của mình là một mong ước đúng, nhưng lấy gì đảm bảo rằng về với triều đình thì thực hiện được điều này? Không có gì bảo đảm cả! Nàng đã quên (hoặc cố tình quên) điều mà Từ Hải đã nói với nàng: "Xót nàng còn chút song thân/ Bấy lâu kẻ Việt người Tần cách xa/ Sao cho muôn dặm một nhà/ Cho người thấy mặt là ta cam lòng". Rõ ràng lời Từ Hải, lời của một người anh hùng đáng tin cậy chứ!

Cớ thứ ba để, đó là danh vọng: cũng chỗ ngồi của vợ quan được vua phong tước, thật là oai nghi ("Cũng ngôi mệnh phụ đường đường/ Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha". Nàng cố tình không nhớ rằng nàng đã ở ngôi vị rất cao: khi Từ Hải cho người đến đón nàng "Cung nga thể nữ nối sau/ Rằng vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy" ("lệnh chỉ" là lệnh của vua chúa. Từ Hải khác gì vua chúa!).

Cớ thứ tư là "Trên vì nước, dưới vì nhà/ Một là đắc hiếu, hai là đắc trung". Chỉ cần đầu hàng là đạt được cả hai điều quan trọng: trọn đạo hiếu với mẹ cha, trọn đạo trung với vua! Nàng đã quên mất một điều cực kỳ quan trọng là đạo phu thê. Từ Hải không những là người chồng mà còn là ân nhân của nàng, đã cứu nàng ra khỏi lầu xanh, đã đem đến vinh hoa phú quý cho nàng.

Hồ Tôn Hiến đã rất hiểu đối phương nên ra ngón đòn "chiêu an", "lễ vật", "thuyết hàng" tuy bước đầu không làm Từ Hải mắc mưu nhưng cũng đã làm cho bộ phận "hậu phương" của Từ Hải tan rã ý chí, "tự diễn biến" theo chiều hướng có lợi cho triều đình. Kiều khôn ngoan ở chỗ không khuyên Từ Hải về với triều đình mà đánh vào điều cơ bản của người anh hùng là ưa sự công bằng (vì triều đình bất công nên phải nổi dậy) và danh tiếng của một con người. Nàng nói đến ơn của nhà vua thật sâu rộng trong nhân dân: "Rằng trong Thánh trạch dồi dào/ Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu/ Bình thành công đức bấy lâu/ Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao". "Ai ai" là số đông, là mọi người. Mọi người cung kính nhớ đến công ơn to lớn của nhà vua. Điều đó nói lên sự công bằng mà triều đình đem lại cho họ. Thế mà lại có người nổi dậy chống lại nhà vua đem đến bao chết chóc cho người dân: "Ngẫm từ dấy việc binh đao/ Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu". Nàng đã gián tiếp lên án cuộc nổi dậy của Từ Hải và nhắc khéo cái gương Hoàng Sào nổi dậy chống nhà Đường "Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào" làm cho Từ Hải phải nghĩ đến danh tiếng để lại chẳng hay ho gì mà chọn con đường về với triều đình, như vậy vừa đúng lẽ "công bằng", vừa không gây cảnh chết chóc, lại không bị đời sau chê cười, lại được "lộc trọng quyền cao", được "công danh" sung sướng.

Nàng Kiều đã đánh trúng tâm lý của người anh hùng: "Nghe lời nàng nói mặn mà" nên đang "Thế công", "Từ mới trở ra thế hàng". Thật là bất ngờ! Sự biến đổi được thực hiện "vội vàng" bằng những việc cụ thể như sắp đặt mọi thứ cho oai nghiêm và đúng nghi thức để đón tiếp sứ giả của triều đình. Trong lần tiếp sứ giả, Từ đã nói rõ là bó giáp lại ("thúc giáp") nghĩa là thôi đánh nhau, thôi hoạt động quân sự ("giải binh"). Hai bên cùng nhau ăn thề dưới thành ("thành hạ yêu minh"), tỏ ý không làm hại nhau và thật thà tuân theo những điều đã ước hẹn.

Từ Hải quá tin nên "việc binh bỏ chẳng giữ giàng", việc canh phòng thì "trễ tràng". Tất cả những biểu hiện đó đã bị quân của Hồ Tôn Hiến nắm chắc. Và Hồ Tôn Hiến "quyết kế thừa cơ" nhân cơ hội này, phía trước thể hiện lễ nghi chiêu hàng, phía sau thì phục sẵn binh mã để đánh úp Từ Hải. Vì mất cảnh giác, vì quá tin kẻ thù nên Từ Hải chỉ nghĩ đến việc ăn vận theo phục sức của vị quan lớn ("Đại quan lễ phục") để ra đầu hàng ở cửa viên ("cửa viên": xưa, lúc quân đội cắm trại thường chồng xe lên làm cửa gọi là "cửa viên" - "viên môn").

Kết quả thì ai cũng biết: Từ Hải bị giết chết, cả sự nghiệp phút chốc tan tành! Câu hỏi được đặt ra là: Ai đã đẩy Từ Hải vào bi kịch thảm thương? Ai? Có người cho rằng chính nàng Kiều đã gây ra bi kịch này! Từ Hải "Nghe lời nói mặn mà" của nàng Kiều nên đang "thế công" chuyển sang "thế hàng". Hãy khoan kết tội nàng Kiều!

Để khẳng định, sự không thay đổi, ca dao có câu "Dù ai nói ngả nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân". Như vậy sao lại kết tội nàng Kiều được! Có người lại kết tội Hồ Tôn Hiến lật lọng, "chiêu an", "thuyết hàng"... rồi mật phục giết người ta.

Vâng xem ra có lý đây, nhưng xin thưa: Binh pháp có câu "Binh bất yếm trá", nghĩa là việc quân sự cho phép tha hồ dối trá. Thế thì cái chết của Từ Hải do ai gây ra? Dù yêu mến nhân vật Từ Hải anh hùng, ta cũng phải công bằng mà nói: Chính Từ Hải đã "tự đánh mất mình", đưa mình vào chỗ chết, đã tự phá tan tành sự nghiệp của mình. Từ Hải đã "đánh mất mình" nghĩa là "tự chuyển hóa" từ người anh hùng "Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai" thành một kẻ đớn hèn, đầu hàng kẻ thù đến nỗi bị Hồ Tôn Hiến giết chết.

Sau khi diệt được Từ Hải, Hồ Tôn Hiến cho mở tiệc mừng thắng trận, lại bắt nàng Kiều hầu hạ bên bàn tiệc, lại dở say bắt nàng đánh đàn... Trong bữa tiệc này, Hồ Tôn Hiến có nói với nàng Kiều: "... hương lửa ba sinh/ Dây loan xin nối cầm lành cho ai". Có người cho rằng Hồ Tôn Hiến đã quan tâm đến nàng Kiều. Tôi thực sự nghi ngờ ý này vì: "Nghe càng đắm, ngắm càng say/ Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình" diễn tả sự say đắm đến mức "ngây" (đờ đẫn, thừ mặt) ra vì tình.

Hồ Tôn Hiến biết ý Kiều, đến lúc rạng ngày mới nhớ ra "... Nghĩ mình phương diện quốc gia/ Quan trên trông xuống, người ta trông vào", và ép nàng Kiều "gán cho người thổ quan". Rõ ràng Hồ Tôn Hiến là người biết sợ, biệt ngượng, biết xấu hổ.

Với tài năng kiệt xuất của mình, Nguyễn Du tiên sinh đã làm cho nhân vật này sống động như một con người thật trong cuộc đời: có ưu, khuyết rõ rệt chứ không phải một con người thiếu sức sống được làm bằng giấy, bằng gỗ đá. Chính sự sống động của nhân vật như vậy mà ta rút ra những bài học thấm thía: sự mất cảnh giác, sự "đánh mất mình", sự "tự chuyển hóa" của Từ Hải đã làm cho Hồ Tôn Hiến thực hiện được mưu kế của mình.

Năm 2015, kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Nguyễn Du tiên sinh, xin thắp nén hương thơm tỏ lòng biết ơn Người đã để lại cho con cháu bài học "cảnh giác" bài học kiên định... muôn đời bất hủ!

Nguyễn Duy Hiển

Video Tổng Hợp

You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay87
mod_vvisit_counterHôm qua66
mod_vvisit_counterTất cả15054
Hiện có 29 khách Trực tuyến